Cô gái Mông và hành trình đưa vải lanh vươn tới năm châu
Bằng bản lĩnh và tình yêu văn hóa, Vàng Thị Dế đã đưa vải lanh truyền thống của người Mông vươn ra thế giới, dệt nên sinh kế bền vững cho phụ nữ vùng cao.
Đưa vải lanh người Mông ra thế giới
Một năm rồi tôi mới trở lại thôn Nhèo Lủng, trở lại Đồng Văn, trở lại vùng cao nguyên đá. Đá đứng, đá nằm, đá chông chênh ôm lấy từng vạt đất hiếm hoi trên sườn núi. Người Mông ở đây sinh ra trên đá, lớn lên bấm chân vào đá mà đi. Người ta bảo đá ở vùng đất này này có linh hồn. Cứ nhìn cây lanh, cây gai dầu mọc chen từ kẽ đá nứt mà vươn lên xanh tốt thì biết, cái sức sống ấy nó lì lợm và dữ dội thế nào.
Dọc đường, bên mấy rãnh nước chảy róc rách sát mép đường, thi thoảng lại gặp vài người phụ nữ Mông ngồi xổm, tay chà, tay vắt những bó sợi lanh dầy khụ. Nước đục lờ chảy ra từ xơ vỏ cây. Cái mùi lanh ngâm lâu ngày bốc lên ngai ngái, chua chua, vừa nồng vừa có chút ngột ngạt. Khách xa ghé qua hít phải thứ mùi ấy dễ thấy gai gai nơi sống mũi, khó chịu. Bỏ mặc cái khó chịu ấy của người qua đường, người Mông ở đây vẫn điềm nhiên ngâm, điềm nhiên vắt. Bởi với họ, cái mùi chua ngái ấy chính là mùi của cơm áo, mùi của thứ chỉ dệt nên tấm váy, áo mặc trên người.
Cái mùi ấy kéo xộc ký ức tôi về một năm trước, cái ngày đầu tiên tôi gặp Vàng Thị Dế.
Hôm ấy trời cũng mưa lẹp nhẹp từ sáng đến chiều. Căn nhà gỗ của xưởng Hemp Hmong Vietnam nằm im lìm giữa thung lũng đá, xung quanh vắng ngắt. Dế ngồi giữa đống vỏ cây thô, vừa tước sợi vừa nói chuyện. Ngày ấy Dế mới đi niềng răng về, hai hàng sắt sáng choang lấp lánh mỗi khi cô cười. Dế bảo chờ mấy hôm nữa trời ráo, cô sẽ đầu tư, sửa sang lại cái xưởng cho đàng hoàng, làm thêm cái nhà trưng bày, rồi mời khách du lịch ghé vào xem người Mông mình làm lanh.
Dế nói chuyện ấy với vẻ đầy nhiệt huyết, như thể mọi việc đã được tính đâu vào đấy.
Một cô gái Mông còn trẻ, nói chuyện làm hàng hóa, làm thương hiệu, tìm khách, đưa sản phẩm đi xa bằng cái vẻ bình thản và chắc chắn. Ở vùng cao nguyên đá này, điều ấy vẫn còn hiếm. Dế muốn cây lanh không chỉ nằm trong chiếc váy của người Mông hay treo ở một góc chợ phiên. Cô muốn nó thành hàng hóa, thành cái sinh kế đàng hoàng cho các chị em phụ nữ trong bản lo được cơm ăn, áo mặc, thành một thứ có thể đi khỏi núi, đến với cách tỉnh thành khác, thậm chí, đến cả với thị trường ngoài nước.
Một năm trôi qua. Lần này trở lại Nhèo Lủng, xưởng của Dế đã khác hẳn. Căn nhà gỗ được quét dọn sáng sủa, mùi gỗ mới lẫn với mùi lanh thơm dịu. Những bộ trang phục, tấm vải dệt tay, túi xách, khăn quàng, đồ thủ công nhỏ nhắn… được xếp ngay ngắn trên các kệ gỗ. Ngoài hiên, mấy người khách Tây mũi cao, tóc vàng ra vào tấp nập. Họ cầm từng khúc vải lên xem, đưa lên mũi hít hà cái mùi cỏ cây tự nhiên, rồi ghé đầu hỏi chuyện mấy chị em đang ngồi dệt. Tiếng nước ngoài xen lẫn tiếng cười vui vẻ trong căn nhà giữa miền cao nguyên đá.
Chỉ có điều, lần này tôi lại không gặp Dế. Cô đang ở mãi tận Sarawak, thuộc đất nước Malaysia.
Dế đi dự chương trình dệt may truyền thống có tên Borneo Interwoven: Jalinan Borneo. Ở đó, người làm nghề dệt từ khắp các nước trong khu vực Đông Nam Á và cả du khách, đại biểu quốc tế kéo về đông lắm. Họ mang theo đủ thứ ngón nghề: Cách tước xơ, cách se sợi, cách tìm cây cỏ trong rừng về làm màu nhuộm, cách giữ văn hóa, nghề truyền thống của tổ tiên mà vẫn sống khỏe trong cái thời đại máy móc, công nghệ chạy rần rật này. Dế là đại diện duy nhất của Việt Nam được ban tổ chức mời sang với vai trò diễn giả.
Một cô gái Mông ở vùng cao nguyên đá cực Bắc Việt Nam, bước lên bục cao nói chuyện với bạn bè năm châu về cây lanh của dân tộc mình. Tin tức ấy báo chí nước bạn đăng tải rầm rộ.
Dế mang cây lanh đi xa quá. Tôi nhớ có lần Dế trần tình với tôi về những ngày đầu bước chân ra thế giới. Dế bảo, cái lần đầu tiên trong đời cô được đi nước ngoài là năm 2023, sang tham dự hội thảo tại Trường Đại học Dân tộc Vân Nam bên Trung Quốc. Trước đó, một đứa con gái sinh ra ở vùng cao nguyên đá như cô chưa bao giờ nghĩ mình sẽ có ngày được ngồi trên máy bay. Thế mà rồi Dế đi thật.
Hai năm trở lại đây, Dế đi liên tục. Hết chuyến giới thiệu sản phẩm ở các thành phố lớn lại đến những cuộc gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm dệt thủ công ở nước ngoài. Dế bảo: "Thời gian đầu, mỗi lần chuẩn bị đi nước ngoài, em đều phải chuẩn bị trước từ 2-3 tháng. Đêm nào cũng ngồi miệt mài tự học tiếng Anh đến 2, 3h sáng. Cứ nghĩ đến việc mình sắp được mang văn hóa của người Mông đi khoe với người ta là lại thấy tỉnh cả người. Khi sang đến nơi, dù ngôn ngữ bất đồng, nhưng chỉ cần em mặc bộ trang phục Mông truyền thống vào, đứng nói về cây lanh, nói về những người phụ nữ và trẻ em vùng cao Việt Nam là tự nhiên trong lòng tràn đầy năng lượng. Em chả có nỗi sợ hãi nào cả. Em nghĩ người ta trân trọng cái thật thà, cái mồ hôi và tấm lòng của mình, thế là đủ".
Sau chuyến đi Malaysia, Dế trở về. Vừa tới nhà, Dế đã nhắn cho tôi. Việc đầu tiên là khoe ảnh. Rất nhiều ảnh. Những chuyến đi, những cuộc gặp, những tấm vải, những người làm nghề ở những miền đất khác nhau, những cái ôm, tình cảm của bạn bè quốc tế.
Tôi nhìn cô gái trong ảnh và nhớ lại Dế của một năm trước. Cô gái ngày ấy còn ngơ ngác khi nghe người ta gọi mình là "đứa con gái Mông đầu tiên ở vùng cao nguyên đá đi niềng răng". Bây giờ Dế vẫn trẻ, vẫn cười tươi rói, nhưng gương mặt đã khác, sắc hơn, ánh mắt điềm tĩnh và tự tin lạ thường. Cách cô nói chuyện đã chín chắn, trưởng thành như một người quen gánh vác công to, việc lớn. Cô gái từng ngồi giữa cái xưởng lanh im ắng ngày mưa năm nào, nay đã mang hơi thở của bản làng vượt qua bao biên giới.
Tiếng lành đồn xa, cái xưởng nhỏ ở Nhèo Lủng dần trở thành điểm đến của những người yêu văn hóa thủ công. Dế bảo vui lắm, vì thời gian gần đây có rất nhiều chuyên gia, tiến sĩ, thạc sĩ ở các trường đại học nước ngoài gửi thư điện tử cho cô. Họ xin phép được sang tận nơi, ăn ở tại xưởng để nghiên cứu và học hỏi quy trình làm vải lanh gắn với văn hóa truyền thống của người Mông.
Dế mở cho tôi xem những đoạn video ngắn cô quay lại. Trong video, những tri thức nước ngoài ăn mặc giản dị, tay chân dính đầy mủ cây, đang say sưa tập tước xơ lanh, tập se sợi cùng bà con.
Cách đây ba tháng, Thạc sĩ tên là Madeleine, nghiên cứu sinh ngành Nhân văn học từ Paris (Pháp) lặn lội tìm đến Hemp Hmong Vietnam. Madeleine ở lại Đồng Văn 3 tháng, cô muốn tìm hiểu xem một bộ trang phục truyền thống của người Mông được tạo ra thế nào, và nó có ý nghĩa gì trong đời sống tâm linh, vật chất của người dân.
Suốt 90 ngày ấy, Madeleine cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt như một người con gái Mông thực thụ. Cô cùng chị em ra nương chặt lanh, mang ra rãnh nước tẩy xơ, rồi về nhà ngồi bên khung dệt tập đưa thoi. Ngày chuẩn bị về nước, Madeleine lưu luyến mãi. Cô dành nhiều thời gian ngồi bên các chị em phụ nữ trong xưởng, đặc biệt là Dế.
Ngày Madeleine chuẩn bị về nước, tôi có mặt ở đó. Madeleine lưu luyến mãi. Cô dành nhiều thời gian ngồi bên các chị em phụ nữ trong xưởng, đặc biệt là Dế.
Madeleine ngập ngừng mất vài giây. Có lẽ cô phải tự dịch cái câu tiếng Anh "vỡ lòng" của tôi sang tiếng Pháp trong đầu. Rồi cô mỉm cười, ánh mắt tràn đầy sự mến phục.
Madeleine bảo: "Dế là một cô gái Mông rất trẻ, thông minh và vô cùng chăm chỉ. Cô ấy đang làm một công việc tuyệt vời để giữ gìn văn hóa của dân tộc mình. Dế là cô gái đầu tiên ở cái xóm này đi học Đại học rồi trở về làm kinh tế. Cô ấy luôn hài hước, vui vẻ và lan tỏa năng lượng tích cực. Ở đất nước Pháp của tôi, những nghề thủ công dệt bằng vỏ cây tự nhiên như thế này gần như đã biến mất từ lâu. Tôi thực sự xúc động khi thấy ở một làng quê xa xôi, vô cùng khó khăn ở cực Bắc Việt Nam, người ta vẫn giữ được nếp văn hóa nguyên sơ và thân thiện với môi trường đến thế. Tôi tin công việc của Dế sẽ phát triển rất tốt, vì cô ấy làm bằng cả trái tim".
Xưởng lanh của những phận đời
Căn nhà gỗ của Hemp Hmong Vietnam vừa là nơi làm việc, nhưng cũng trở thành một cái mái nhà chung đúng nghĩa. Hiện tại, xưởng có khoảng 10 chị em phụ nữ làm việc trực tiếp. Mỗi người tìm đến đây đều mang theo một cái số phận, một cái hoàn cảnh riêng tủi cực đằng sau.
Bà Hầu Thị Cáy (55 tuổi) là người làm với Dế từ những ngày đầu. Cuộc đời bà Cáy buồn lắm. Hai vợ chồng ăn ở với nhau cả đời mà không có nổi một đứa con. Chẳng có chỗ nương tựa, không có ruộng đất tốt, nhà lại nghèo đến mức không có tiền mua nổi cân gạo, không trả nổi tiền điện thắp sáng. Hai vợ chồng già sống lủi thủi trong căn nhà xiêu vẹo. Nhưng từ ngày về làm với Dế, hàng tháng, Dế trả lương đàng hoàng, tiền công mỗi tháng giúp hai vợ chồng bà có gạo, có thức ăn, có những khoản chi tiêu thường ngày mà không phải trông chờ vào ai.
Lại có những bạn gái mới 15, 16 tuổi đã tìm đến xưởng. Ở cái nơi vùng sâu, vùng xa nơi cao nguyên đá này, cái tục lệ cũ kỹ vẫn còn bám sâu vào suy nghĩ của nhiều người. Đứa con gái 15 tuổi đã vội lấy chồng, 16 tuổi đã bế con trên tay. Thanh xuân của chúng nó vùi dập trong những lo toan nương rẫy, trong cái nghèo cái đói. Nhiều đứa tìm đến xưởng của Dế với đôi mắt lầm lì, hốc hác, không biết nói một câu tiếng phổ thông cho tròn chữ.
Thế nhưng về ở xưởng với Dế một thời gian, qua những câu chuyện hàng ngày, qua việc tiếp xúc với du khách dưới xuôi, rồi cả những người khách nước ngoài, cái đầu của chúng nó bắt đầu mở ra. Chúng nó được học nghề dệt, tự tay làm ra đồng tiền chân chính. Không chỉ dừng lại ở việc kiếm sống, chúng nó còn biết quay về tuyên truyền cho bố mẹ, cho họ hàng trong bản bỏ bớt những tục lệ lạc hậu.
Mỗi người một mảnh ghép. Người thì mất chồng, người thì gia đình khốn khó, người thì lỡ dở duyên tình. Nhưng khi về dưới mái nhà Hemp Hmong Vietnam, họ sống với nhau tình cảm như người một nhà. Những buổi chiều sương xuống lạnh giá, bên bếp lửa hồng, chị em lại ngồi xúm chụm lại. Người cất giọng hát những bài dân ca Mông, người rủ rỉ tâm sự chuyện đời. Nhiều hôm nhắc lại cảnh khổ ngày trước, mấy chị em lại ôm nhau khóc nức nở. Khóc xong rồi lại cười. Mọi người đều biết quan tâm nhau, nhường nhau cái áo ấm, tặng nhau cái khăn, miếng bánh miếng thịt chia nhau từng chút một. Nhìn họ sinh hoạt, chả ai nghĩ đó là một cái xưởng sản xuất tẻ nhạt. Nó là một gia đình, nơi những phận người yếu thế cùng nương tựa vào nhau.
Nghề truyền thống bước vào “cuộc chơi” lớn
Nhớ lại những bước khởi đầu gian nan của mình, Dế bảo có lẽ em sẽ không thể thành công được nếu không đi học hành tử tế, không giao tiếp tìm tòi, học hỏi. Hoặc đơn giản hơn là nếu như không có Internet, không có cái điện thoại thông minh.
Dế kể, hồi dịch COVID-19 bùng phát năm 2020, cô đang là sinh viên năm thứ hai phải nghỉ học trở về bản. Mở cái hòm gỗ cũ của mẹ ra, thấy mấy xấp vải lanh thô nằm im lìm bao năm trong bóng tối. Mẹ Dế bảo vải này là của hồi môn, chỉ dùng cho ngày cưới hay lúc qua đời. Dế nhìn xấp vải mà xót. Cô nghĩ bụng: "Tại sao một báu vật dệt bằng biết bao mồ hôi lại cứ phải giấu dưới đáy hòm?".
Tấm vải lanh đầu tiên cô bán được cũng là nhờ đăng bán trên mạng. Dế mang điện thoại ra nương chụp ảnh cảnh trồng lanh, chụp cảnh các bà các mẹ tước xơ, se sợi, dệt vải rồi đăng lên mạng xã hội. Nhờ có Internet và các trang thương mại điện tử xuyên biên giới, những tấm vải lanh thô ráp từ cái thôn Nhèo Lủng hẻo lánh bắt đầu chạm đến tay những người yêu đồ thủ công dưới miền xuôi, rồi vượt biên giới sang Mỹ, Pháp, Nhật... Đến khi thấy Dế nhận được những đơn hàng xuất ngoại đầu tiên, có tiền thật gửi về, các mẹ các cô trong bản mới ngỡ ngàng. Họ bắt đầu ôm những xấp vải lanh tích trữ bấy lâu trong hòm mang đến xưởng nhờ Dế bán hộ.
Nhưng đường làm ăn đâu có dễ dàng như cái suy nghĩ ban đầu.
Khổ vải lanh truyền thống của người Mông dệt ra từ trước đến nay chỉ rộng vỏn vẹn 35 phân. Khổ vải ấy hẹp quá, người dưới xuôi hay khách nước ngoài mua về rất khó may quần áo hay làm sản phẩm gia dụng, vì cắt ra là thừa thãi, hao vải rất nhiều. Muốn vươn ra thế giới thì sản phẩm không thể cứ giữ nguyên bản y hệt như ngày xưa nếu nó không đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Dế lại ngồi lại với các bà, các nghệ nhân già trong bản. Cô bàn chuyện cải tiến khung dệt, cô cùng bà con loay hoay sửa từng cái thoi, cái cọc, rồi nâng được khổ vải dệt lên 60 phân. Vải dệt ra vừa giữ được cái thô ráp, mộc mạc nguyên bản của sợi lanh, lại vừa phẳng dặn, chuẩn kích thước để các xưởng may hiện đại dễ dàng chế tác.
Để bán được hàng ra quốc tế, Dế phải tự học đủ thứ. Cô học cách đóng gói hàng hóa thật kỹ để sản phẩm dệt bằng sợi tự nhiên không bị ẩm mốc khi vận chuyển qua những vùng khí hậu khác nhau. Cô mày mò học cách gửi hàng qua các dịch vụ chuyển phát quốc tế phức tạp, học cách dùng thẻ thanh toán trực tuyến, rồi tỉ mẩn đọc từng dòng phản hồi (feedback) của khách nước ngoài để sửa đổi. Năm 2024, khi tham dự Diễn đàn Hemp Đông Nam Á, Dế mới vỡ lẽ ra rằng cây lanh không chỉ dệt vải, mà nó còn tạo ra được vô số sản phẩm hiện đại khác, đúng theo xu hướng "Thời trang bền vững" (Sustainable Fashion) mà thế giới đang theo đuổi.
Mới đây nhất, ngày 08/4, đánh dấu một bước tiến lớn của Hemp Hmong Vietnam. Dế cùng chính quyền địa phương chính thức ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm từ cây gai dầu tại xã Đồng Văn với diện tích lên tới 10 ha. Đây là trái ngọt từ mô hình liên kết ba bên: Chính quyền - Người dân - Doanh nghiệp.
Nói về sự kiện này, Dế trần tình đầy tâm huyết: "Trước đây bà con trồng lanh, trồng gai dầu nhỏ lẻ lắm, làm ra không biết bán cho ai nên thu nhập bấp bênh. Lần này ký bao tiêu, bà con yên tâm rồi, cứ làm ra bao nhiêu sợi, bao nhiêu vải là xưởng thu mua hết. Khách hàng đối tác của em ở nước ngoài cũng hoàn toàn yên tâm vì mình có vùng nguyên liệu ổn định, đảm bảo cả về chất lượng lẫn số lượng".
Ở cái vùng cao nguyên đá này, tìm được một cây trồng cho thu nhập cao là gian nan lắm. Địa hình đá tai mèo sắc nhọn, đất trồng thì hiếm, cày xới bạc cả lưng mà trồng các cây trồng truyền thống khác thu nhập chẳng được bao nhiêu. Bây giờ, mỗi héc-ta trồng lanh cho thu nhập từ 200-300 triệu đồng một năm.
Dế bảo tôi, cô luôn có một ước mơ nho nhỏ. Dế mong sao trong vài năm tới, cái màu xanh mướt của cây lanh, cây gai dầu sẽ phủ kín dần trên những sườn đá xám cằn cỗi của Đồng Văn. Cô không dám hứa những điều quá to tát hay cao siêu. Cô chỉ cam kết sẽ nỗ lực hết mình trong công việc, giữ trọn cái uy tín và sự chỉn chu để không phụ lòng tin của đối tác và sự kỳ vọng của bà con. Mục tiêu của Dế trong 3 năm tới là tạo việc làm ổn định cho khoảng 500 chị em phụ nữ vùng cao, để họ có thu nhập từ 5-7 triệu đồng một tháng ngay tại chính ngôi nhà của mình.
Cây lanh mọc lên từ kẽ đá. Người Mông cũng từ đá mà vươn lên. Và cô gái Vàng Thị Dế, với giấc mơ mang vải lanh người Mông đi khắp thế giới, đang chứng minh cho người ta thấy rằng, chỉ cần cái tâm chân thật và cái gan đủ to, thì từ trên cao nguyên đá này, người ta hoàn toàn có thể tự tay dệt nên một cuộc đời rực rỡ.
Tin liên quan
- Danh sách tổ chức chứng nhận hợp quy bơm phun thuốc trừ sâu đeo vai phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-182 2015/BNNPTNT
- Hội nghị KHCN chuyên ngành Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch
- Hội nghị tham vấn nội dung đề án nâng cao giá trị sản xuất, chế biến muối giai đoạn 2021-2025 với 7 tỉnh tham gia thực hiện đề án
- Xây dựng mô hình đào tạo nghề nông nghiệp năm 2020
- Khai giảng lớp đào tạo “giám đốc hợp tác xã” khu vực phía Nam
- Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2020
- Hội thảo về Bảo tồn và phát triển ngành nghề mây tre lá, gốm sứ, thêu và dệt
- HỘI THI SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM 2020
- Hội thi hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam 2020
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội thảo Thông cáo báo chí Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2020
