Thương mại điện tử nông thôn: Đo hiệu quả bằng giao dịch, doanh thu
Tiêu chí 7.3 trong bộ tiêu chí nông thôn mới hướng tới xây dựng một hệ sinh thái thương mại điện tử có khả năng vận hành và tạo ra giá trị.
Thương mại điện tử đang mở ra thêm không gian thị trường cho nông sản, sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc trưng của khu vực nông thôn. Tuy nhiên, việc một địa phương có vài gian hàng trực tuyến, tổ chức một số phiên livestream hay đưa sản phẩm lên mạng chưa đồng nghĩa hoạt động thương mại điện tử đã thực sự hiệu quả.
Đó cũng là điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Tiêu chí số 7.3 về “Triển khai hiệu quả hoạt động thương mại điện tử” thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Tài liệu hướng dẫn của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương tập trung vào ba nội dung lớn: đánh giá, đo lường và hướng dẫn tổ chức thực hiện tiêu chí tại địa phương.
Điểm nổi bật của Tiêu chí 7.3 là thương mại điện tử ở nông thôn không còn được nhìn đơn thuần qua việc “có bán hàng online hay không”, mà được đánh giá từ năng lực của con người, hệ sinh thái hỗ trợ cho đến mức độ tham gia thị trường và doanh thu thực tế.
Ba trụ cột thay đổi cách nhìn về thương mại điện tử nông thôn
Theo hướng dẫn, Tiêu chí 7.3 đánh giá hiệu quả thương mại điện tử tại cấp xã dựa trên ba trụ cột: năng lực số, hệ sinh thái hỗ trợ và kết quả triển khai thực tế.
Thứ nhất, năng lực và kỹ năng số được mở rộng từ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh đến cán bộ quản lý và người dân. Người bán được trang bị kỹ năng livestream, tiếp thị số, quảng cáo trực tuyến, ứng dụng AI và thương mại điện tử xuyên biên giới; cán bộ được nâng cao năng lực quản lý, kiểm tra, xử lý vi phạm, bảo vệ người tiêu dùng và chống hàng giả. Người dân được hướng dẫn tra cứu thông tin, giá cả và nhận diện lừa đảo trực tuyến.
Thứ hai, hệ sinh thái hỗ trợ cộng đồng được hình thành thông qua các tổ hỗ trợ, nhóm trực tuyến, chủ thể kinh doanh dẫn dắt và dịch vụ bưu chính, logistics. Các lực lượng này giúp hộ sản xuất từ xây dựng nội dung, mở gian hàng đến bán hàng và giao nhận.
Thứ ba, hiệu quả thực tế được đo bằng tỷ lệ chủ thể kinh doanh trực tuyến, mức độ số hóa sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và doanh số giao dịch. Với sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, yêu cầu số hóa phải gắn với minh bạch thông tin và khả năng kiểm chứng nguồn gốc.
Với sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh trở lên được đặt trong yêu cầu về hiện diện trên nền tảng số và truy xuất nguồn gốc. Do vậy, số hóa sản phẩm không chỉ để quảng bá mà còn phải đi cùng minh bạch thông tin và khả năng kiểm chứng nguồn gốc.
Lượng hóa hiệu quả, kiểm chứng bằng dữ liệu
Về năng lực số, xã đạt chuẩn nông thôn mới phải có trên 40% chủ thể hoặc đại diện chủ thể kinh doanh được đào tạo ít nhất một kỹ năng số thực hành và trên 30% cán bộ, công chức làm công tác quản lý được đào tạo về thương mại điện tử.
Trong cộng đồng, trên 50% người từ 18 tuổi trở lên phải biết sử dụng điện thoại thông minh để tra cứu giá cả, sản phẩm trên nền tảng số; trên 20% được phổ biến kỹ năng nhận diện, phòng tránh lừa đảo trực tuyến. Với xã nhóm 1 nâng cao, các tỷ lệ này lần lượt tăng lên ít nhất 60%, 50%, 80% và 50%.
Cùng với năng lực số, hệ sinh thái hỗ trợ cũng được định lượng. Xã đạt chuẩn cần có ít nhất 2 tổ hỗ trợ cộng đồng, 1 nhóm hỗ trợ trực tuyến, 1 chủ thể kinh doanh tiêu biểu, tổ chức ít nhất 1 phiên livestream mỗi năm do chính quyền trực tiếp chủ trì và có 1 đơn vị bưu chính, giao nhận hỗ trợ lấy hàng tận nơi.
Với xã nhóm 1 nâng cao, các yêu cầu tăng lên tương ứng là 4 tổ, 2 nhóm, 2 chủ thể, 2 phiên livestream và 2 đơn vị bưu chính, logistics.
Ở đầu ra, tỷ lệ chủ thể có website bán hàng hoặc gian hàng đang hoạt động trên sàn thương mại điện tử phải trên 20%, xã nâng cao đạt ít nhất 30%. Tỷ lệ sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên hoặc sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu được số hóa phải trên 60%, xã nâng cao ít nhất 80%. Trong đó, sản phẩm có mã QR truy xuất nguồn gốc phải đạt trên 80%, còn xã nâng cao đạt 100%.
Đáng chú ý, doanh thu trở thành thước đo hiệu quả. Tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử của các chủ thể trên địa bàn phải đạt ít nhất 120 tỷ đồng/năm, riêng xã nhóm 1 nâng cao là 300 tỷ đồng/năm. Con số này cho thấy yêu cầu đối với thương mại điện tử đã chuyển từ việc tạo dựng sự hiện diện trên môi trường số sang tạo ra giao dịch và giá trị kinh tế thực tế.
Để bảo đảm tính xác thực, số liệu có thể được đối chiếu từ cơ quan quản lý, nền tảng trực tuyến, bưu chính, trung gian thanh toán, ngân hàng, sổ sách kế toán và báo cáo thuế. Địa phương cũng phải lưu đường dẫn gian hàng, hình ảnh hoạt động, hồ sơ thành lập tổ hỗ trợ, báo cáo doanh thu và chứng từ logistics.
Như vậy, Tiêu chí 7.3 đặt ra một hệ thống tương đối đầy đủ cho thương mại điện tử ở cấp xã: có người biết làm, có hệ thống hỗ trợ, có sản phẩm được số hóa, có giao dịch và có dữ liệu chứng minh. Đây là bước chuyển từ phát triển thương mại điện tử theo phong trào sang đo lường hiệu quả kinh tế số ở cấp xã.
Nguồn: Việt Anh Báo Nông nghiệp và Môi trường
Chi tiết bài báo xem tại đây
Tin liên quan
- Tăng cường triển khai cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng theo Quyết định số 1665/QĐ-TTg
- Trung tâm Điều dưỡng và Phục hồi chức năng trong công tác phòng chống tác hại của thuốc lá
- Thứ trưởng Võ Văn Hưng làm việc với Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn về các Đề án trọng tâm năm 2026 và giai đoạn 2026–2030
- Tinh gọn hệ thống pháp luật ngành Nông nghiệp và Môi trường
- Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và Môi trường
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường thu hút nhân tài cho lĩnh vực chiến lược
- Chung tay xóa bỏ cây thuốc phiện, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc
- Chuyển đổi hơn 41.600ha đất lúa, mở dư địa phát triển nông nghiệp đa giá trị
- Xây dựng pháp luật theo tư duy quản trị phát triển
- Sửa đồng thời nhiều luật, cắt giảm hàng trăm thủ tục, thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng thị trường được Bộ Nông nghiệp và Môi trường coi là động lực mới để tăng trưởng.
