Giảm phát thải, tiết kiệm chi phí, nâng chất lượng nông sản và gia tăng thu nhập đang mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp ĐBSCL, nhất là sản xuất lúa.
Giảm phát thải sẽ giảm chi phí sản xuất
ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, phương thức sản xuất truyền thống cũng tạo ra lượng phát thải khí nhà kính đáng kể, đặt ra yêu cầu chuyển đổi sang nền nông nghiệp các-bon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Theo PGS.TS Châu Minh Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, ĐBSCL có hơn 2,6 triệu ha đất nông nghiệp, đóng góp khoảng 31% GDP toàn ngành nông nghiệp, sản xuất khoảng 50% sản lượng lúa và chiếm tới 95% lượng
gạo xuất khẩu của cả nước. Đây cũng là khu vực chịu tác động rõ nét của hạn hán, xâm nhập mặn và những biến động ngày càng khó lường của thời tiết.
Trong sản xuất lúa, việc duy trì ruộng ngập nước liên tục, sử dụng phân đạm chưa hợp lý và xử lý rơm rạ bằng hình thức đốt ngoài đồng là những nguyên nhân làm gia tăng phát thải khí nhà kính. Vì vậy, chuyển đổi phương thức canh tác không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu về môi trường mà còn trực tiếp liên quan đến bài toán giảm chi phí, nâng hiệu quả sản xuất cho nông dân.
PGS.TS Châu Minh Khôi cho rằng, nông nghiệp các-bon thấp cần được nhìn nhận theo hướng tạo ra “lợi ích kép”. Các giải pháp kỹ thuật nếu được lựa chọn phù hợp có thể vừa giảm lượng phát thải, vừa giảm đầu vào sản xuất và nâng hiệu quả kinh tế.
Một trong những hướng đi đáng chú ý là luân canh lúa với cây trồng cạn tại những khu vực thường xuyên thiếu nước hoặc chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn vào mùa khô. Thay vì duy trì sản xuất lúa 3 vụ liên tục, nông dân có thể bố trí các loại cây trồng thích hợp như bắp, củ dền, dưa hấu… vào thời điểm điều kiện nước không thuận lợi cho cây lúa.
Kết quả nghiên cứu tại xã Long Phú, TP Cần Thơ cho thấy, so với trồng lúa thuần trong vụ đông xuân, lợi nhuận từ cây củ dền có thể tăng 163%, dưa hấu tăng 75% và bắp tăng 25%. Việc chuyển một phần diện tích từ môi trường đất ngập nước sang điều kiện canh tác cây trồng cạn cũng góp phần giảm phát thải khí mê-tan (CH4) từ 19-63%.

Đáng chú ý, quản lý nước đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng để hướng tới canh tác
các-bon thấp. Nhóm nghiên cứu của PGS.TS Châu Minh Khôi đã ứng dụng cảm biến ẩm độ đất Chameleon, giúp nông dân nhận biết tình trạng ẩm của đất để quyết định thời điểm tưới.
Kết quả tại các mô hình trình diễn cho thấy, thiết bị này giúp tiết kiệm khoảng 43-58% lượng nước tưới cho một số cây trồng cạn như bắp, củ dền và dưa hấu mà vẫn duy trì năng suất. Tiết kiệm nước đồng nghĩa với giảm chi phí nhiên liệu, công lao động và hạn chế nguy cơ tích lũy mặn trong đất.
Liên kết để hình thành vùng sản xuất carbon thấp
Trong sản xuất lúa, những nguyên tắc tương tự đang được thúc đẩy thông qua các mô hình canh tác giảm phát thải, trong đó có yêu cầu giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý, tưới nước tiết kiệm, quản lý rơm rạ và tăng cường liên kết sản xuất.
Tại
HTX Sơn Hòa, xã Óc Eo, tỉnh An Giang, việc áp dụng các giải pháp canh tác lúa giảm phát thải khoảng 500 ha đang được xem là hướng đi phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo.
Những năm gần đây HTX Sơn Hòa, việc kết hợp giữa kỹ thuật canh tác như “1 phải 5 giảm”, tưới ướt - khô xen kẽ với các công cụ hỗ trợ đã giúp nông dân giảm chi phí vật tư khoảng 10%, tiết kiệm nước 30-40% và nâng cao chất lượng hạt lúa. Lợi nhuận bình quân đạt khoảng 15-17 triệu đồng/ha mỗi vụ - con số cho thấy hiệu quả rõ rệt khi phương thức sản xuất được điều chỉnh.
Với nhiều nông dân, điều quan trọng hơn là họ không còn làm theo cảm tính. Từ chỗ “làm quen tay”, giờ đây việc sản xuất dần dựa vào hướng dẫn kỹ thuật, vào quy trình và cả thông tin được cập nhật.
Anh Phan Văn Út Chót, một xã viên trong HTX Sơn Hòa đang canh tác 6ha lúa, chia sẻ: “Từ khi áp dụng máy móc và kỹ thuật mới, tôi giảm được rất nhiều công lao động. Không còn phải phun thuốc trực tiếp, cũng đỡ độc hại hơn. Làm lúa giờ nhẹ hơn mà năng suất vẫn đảm bảo”.
Ông Phan Thành Bắc, Giám đốc HTX Nông nghiệp Sơn Hòa, xã Óc Eo,
tỉnh An Giang cho biết: điều quan trọng khi triển khai mô hình không chỉ là giảm phát thải mà phải giúp nông dân nhìn thấy hiệu quả trực tiếp thông qua giảm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới và công lao động. Khi chi phí giảm, năng suất và chất lượng lúa được bảo đảm, nông dân sẽ có thêm động lực để tiếp tục thay đổi phương thức canh tác.
Từ thực tế sản xuất, việc chuyển đổi sang nông nghiệp các-bon thấp cũng đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất. Các hộ nông dân riêng lẻ khó có thể thực hiện đầy đủ quy trình đo đạc, ghi chép và kiểm soát phát thải. Do đó, hợp tác xã và các tổ chức liên kết sản xuất giữ vai trò quan trọng trong việc tập hợp diện tích, thống nhất quy trình và kết nối doanh nghiệp.

PGS.TS Châu Minh Khôi nhận định thêm, để nông nghiệp công nghệ cao và các-bon thấp được nhân rộng, ĐBSCL cần tháo gỡ đồng thời nhiều điểm nghẽn như vốn và tín dụng, đất đai manh mún, nhân lực có kỹ năng công nghệ, thị trường đầu ra, hạ tầng logistics, chi phí công nghệ và cơ chế chính sách hỗ trợ.
Trong đó, liên kết “4 nhà” gồm Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân cần được củng cố. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách; nhà khoa học cung cấp giải pháp kỹ thuật; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường; còn nông dân là chủ thể trực tiếp thực hiện chuyển đổi.
Một hướng đi có ý nghĩa lâu dài là hình thành hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) để lượng hóa kết quả giảm phát thải. Khi dữ liệu được kiểm chứng minh bạch, những nỗ lực của nông dân trong
giảm phát thải có thể trở thành cơ sở để tham gia thị trường carbon, đồng thời nâng giá trị của nông sản trên thị trường quốc tế.
Các giải pháp như quản lý nước, luân canh cây trồng, quản lý rơm rạ, sử dụng phân hữu cơ và tăng khả năng lưu trữ các-bon trong đất không chỉ mang lại lợi ích môi trường. Đây còn là nền tảng để xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả hơn, giảm phụ thuộc vào đầu vào, nâng chất lượng nông sản và tăng khả năng cạnh tranh.

Nguồn: Lê Hoàng Vũ Báo Nông nghiệp và Môi trường