Đề án 1 triệu ha còn nhiều ‘nút thắt’ trong chuỗi liên kết
Hơn 2 năm triển khai Đề án 1 triệu ha, vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp được mở rộng đáng kể, nhưng chuỗi liên kết: doanh nghiệp - HTX còn nhiều điểm nghẽn.
Tín dụng ngân hàng khó tiếp cận?
Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Bộ đã cung cấp cho hệ thống ngân hàng danh sách khoảng 1.230 HTX/THT và 210 doanh nghiệp tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Đồng thời xác định nhu cầu vốn tín dụng gần 83.000 tỷ đồng và công bố vùng chuyên canh khoảng 942.357 ha. Đây là cơ sở để các tổ chức tín dụng xác định phạm vi và đối tượng cho vay.
Tuy nhiên, tính đến tháng 4/2026, mới có khoảng 8 ngân hàng thương mại đăng ký tham gia, với lũy kế giải ngân khoảng 3.600 tỷ đồng. So với nhu cầu vốn gần 83.000 tỷ đồng, nguồn vốn thực tế được giải ngân vẫn còn rất thấp.
Điều này cho thấy điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở nguồn cung tín dụng mà còn ở khả năng hấp thụ vốn của các chủ thể trong chuỗi liên kết lúa gạo.
Tại Hội thảo “Thúc đẩy liên kết sản xuất tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện Đề án 1 triệu ha, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư”, ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An cho rằng, thực tế triển khai liên kết trong Đề án chưa đạt như kỳ vọng.
Theo ông Bình, nếu thực hiện tốt chuỗi liên kết lúa gạo và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của Đề án 1 triệu ha, giá trị xuất khẩu của 8 triệu tấn gạo Việt Nam hoàn toàn có thể đạt tới 10 tỷ USD thay vì mức 5 tỷ USD như hiện nay.
Tuy nhiên, “nút thắt” lớn nhất ngăn cản doanh nghiệp mở rộng diện tích liên kết chính là nguồn vốn. Ông Bình cho biết, để duy trì và nhân rộng các cánh đồng liên kết, doanh nghiệp bắt buộc phải có tiềm lực tài chính mạnh, nhằm cung ứng trước vật tư đầu vào cho nông dân và có sẵn dòng tiền để thanh toán sau khi thu hoạch.
Đây là bài toán không đơn giản, nhất là khi doanh nghiệp phải tổ chức liên kết trên diện tích ngày càng lớn. Lãnh đạo Trung An kiến nghị, chính quyền địa phương cần khẩn trương phê duyệt danh mục dự án liên kết thực tế của doanh nghiệp. Đây sẽ là căn cứ pháp lý để ngân hàng giải ngân, giúp các bên bắt tay hợp tác chặt chẽ, hiệu quả.
Liên quan vấn đề này, ông Trần Hoài Phương, Giám đốc khối khách hàng Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển TP Hồ Chí Minh (HDBank) cho hay, đơn vị đang chuyển hướng sang mô hình tài trợ theo chuỗi liên kết, từ nhà cung ứng, nhà phân phối đến doanh nghiệp xuất khẩu.
HDBank đã chuẩn bị nguồn vốn ban đầu khoảng 3.000 tỷ đồng cho vay lĩnh vực lúa gạo và sẵn sàng mở rộng lên 5.000 tỷ đồng, để đáp ứng nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong thời gian tới.
Nghịch lý: thừa gạo tiêu dùng, thiếu gạo chế biến
Phân tích vấn đề liên kết ở góc độ khác, ông Trần Trương Tấn Tài, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed) bày tỏ, giá lúa gạo trên thị trường do quy luật cung - cầu quyết định. Cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý đều khó can thiệp trực tiếp vào giá bán. Vì vậy, để nâng cao thu nhập cho người nông dân, giải pháp cốt lõi và khả thi nhất là cắt giảm chi phí đầu vào.
Trong đó, xây dựng thương hiệu gạo chất lượng cao là một hướng quan trọng để nâng giá trị chuỗi liên kết. Ông Tài dẫn chứng, tại Vinaseed, sản lượng gạo xuất khẩu đi các thị trường ngách như: châu Âu, Úc không quá lớn, khoảng 100 nghìn tấn/năm, nhưng nhờ chú trọng xây dựng thương hiệu và chấp nhận chi phí đầu tư ban đầu, giá xuất khẩu không dưới 1.050 USD/tấn.
Đáng chú ý, việc xây dựng thương hiệu gạo không nhất thiết chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp. Ông Tài cho rằng, các HTX hoàn toàn có thể xây dựng thương hiệu gạo riêng để phục vụ thị trường địa phương. Qua đó, có thể nâng cao giá trị sản phẩm thay vì chờ doanh nghiệp đến liên kết thu mua.
Dẫn dữ liệu nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI), ông Tài cho biết, từ năm 2006 đến năm 2030, nhu cầu tiêu dùng gạo trực tiếp giảm khoảng 3%/năm. Trong khi đó, nhu cầu gạo phục vụ chế biến (bún, bánh, thực phẩm khác...) lại tăng 15%/năm.
Thực tế này cho thấy, việc thiếu quy hoạch phân khúc sản xuất, dẫn đến tình trạng thừa gạo ăn sẽ khiến giá bị đẩy xuống thấp, nhưng lại thiếu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, buộc phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Vì vậy, ông Tài cho rằng, để lúa gạo Việt Nam phát triển bền vững, cần tập trung 3 nhóm giải pháp chính. Đầu tiên, Nhà nước cần rà soát lại quy hoạch sản xuất, điều chỉnh cơ cấu lúa gạo theo nhu cầu thực tế của thị trường và tính đến giải pháp “cho đất nghỉ ngơi”. Kế đến là tăng cường chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và HTX phát triển các dòng sản phẩm gạo chất lượng cao, phát thải thấp. Cuối cùng là hoàn thiện quy trình kỹ thuật, phần mềm quản lý để truy xuất nguồn gốc, loại bỏ tình trạng vi phạm bản quyền giống lúa, đảm bảo chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.
Nguồn: Kim Anh Báo Nông nghiệp và Môi trường
Chi tiết bài báo xem tại đây
Tin liên quan
- Hợp tác xã sẽ tham gia nhiều hơn vào Dự án VnSAT
- Nông nghiệp Việt Nam: Tư duy xanh
- Tăng cường liên kết chuỗi giữa các chủ thể để phát triển nền nông nghiệp
- Tổng Giám đốc IRRI: Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao không còn phạm vi một quốc gia
- Sáng nay, ngày 18/8/2025 tại Thành phố Huế Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tổ chức lớp tập huấn cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ quản lý HTX về kinh tế tập thể, hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp
- Tổng kết công tác đổi mới, phát triển kinh tế tập thể
- Trồng lúa giảm phát thải, lợi nhuận tăng hơn 20%
- Tăng tốc nhân rộng mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp
- Tháp Mười bứt phá Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp
- WB cam kết huy động tài trợ không hoàn lại cho Đề án một triệu hecta
