Xây vùng sầu riêng bền vững [Bài 1]: Những chữ ký mở đầu chuỗi liên kết

Mười ba hộ trồng sầu riêng ở Krông Pắc cùng lập tổ hợp tác, bước đầu vượt khỏi cách làm riêng lẻ để hình thành vùng nguyên liệu và tìm đầu ra chung.

Một tờ cam kết được chuyển đến từng thành viên tổ hợp tác Hải Sơn. Mỗi người ghi diện tích vườn, xác nhận tham gia rồi ký tên. Khi đủ 13 chữ ký, ông Nguyễn Hữu Sơn, tổ trưởng, mới có thể hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp một mã số vùng trồng chung.
Mã số chưa được cấp, hoạt động của tổ cũng vừa bắt đầu. Nhưng quyết định đứng chung đã đánh dấu một thay đổi với những người nhiều năm quen tự chăm vườn, tự chọn vật tư và tự tìm thương lái. Từ đây, sản phẩm của mỗi hộ có thể mang tên chung của cả vùng.

Từ những khu vườn làm theo cách riêng

Tổ hợp tác Hải Sơn hoàn thành thủ tục thành lập ngày 1/7. Trước thời điểm ấy, 13 gia đình là 13 đơn vị sản xuất độc lập. Người có kinh nghiệm lựa chọn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo cách đã quen. Người mới trồng tìm hiểu qua đại lý vật tư, lớp tập huấn hoặc những nhà vườn bên cạnh. Đến mùa thu hoạch, mỗi hộ lại gọi thương lái, xem giá rồi tự quyết định bán.
Theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, có hiệu lực từ ngày 31/7, một cá nhân hoặc tổ chức có thể đề nghị cấp mã số vùng trồng. Tuy nhiên, với những hộ có diện tích nhỏ, đứng riêng đồng nghĩa quy mô mua vật tư, tổ chức kỹ thuật và tập trung nguồn hàng đều hạn chế. “Mua vài tạ phân, đại lý lần lữa mãi mới chở”, ông Sơn nhớ lại.

Từ thực tế đó, ông cùng các hộ có vườn liền kề thống nhất lập tổ hợp tác. Mục tiêu trước mắt không phải tạo ra một cái tên mới để lập tức bán được giá cao hơn. Việc đứng chung trước hết giúp hình thành một vùng nguyên liệu ổn định, thành viên và đầu mối đại diện rõ ràng.

Mã số vùng trồng, nếu được cấp, sẽ giúp xác định khu vực sản xuất gắn với sản phẩm. Nhưng với Hải Sơn, điều quan trọng hơn nằm ở cách 13 hộ liên kết sau khi cùng đứng tên. Từng gia đình vẫn trực tiếp chăm sóc khu vườn của mình, song cần chia sẻ thông tin và tuân thủ những nguyên tắc đã thống nhất.
Sự ràng buộc này không dễ được chấp nhận ngay. Người trồng vốn quen tự quyết định cách chăm sóc, thời điểm xử lý cây và lúc bán hàng. Tham gia một vùng chung đòi hỏi họ kê khai diện tích, chia sẻ thông tin sản xuất và chấp nhận trách nhiệm với nguồn hàng mang tên cả tổ.
Đổi lại, tổng nhu cầu của 13 khu vườn tạo ra quy mô lớn hơn rõ rệt khi mua vật tư. Một buổi hướng dẫn kỹ thuật có thể được tổ chức cho cả nhóm. Khi bước vào vụ thu hoạch, sản lượng của nhiều hộ cũng có thể được thống kê và tập trung, thay vì mỗi gia đình tự giới thiệu vài tấn sầu riêng với người mua.

Ông Nguyễn Tú Huyên, một thành viên của tổ, gọi mong muốn giản dị ấy là được “cắt dao đầu cùng nhau”, khi các vườn có thể bắt đầu thu hoạch trong một kế hoạch chung, với sản lượng đủ để mời người mua đến làm việc.
Gia đình ông có hơn một ha sầu riêng, vườn bước sang năm thứ tám. Phần cây cho thu hoạch năm nay đạt khoảng 20 tấn, trị giá khoảng một tỷ đồng. Đó là tài sản lớn với một gia đình, nhưng lượng hàng vẫn nhỏ nếu đặt trong quan hệ với doanh nghiệp vật tư hoặc đơn vị thu mua.
Với ông Huyên, việc đứng chung không chỉ nhằm hoàn thành hồ sơ mã số. Điều ông chờ đợi là các thành viên có thể trao đổi kỹ thuật, cùng tìm hiểu thị trường và tập hợp sản lượng khi cần.
Tuy vậy, ông cũng cho rằng quy mô của tổ không nên quá lớn. Một nhóm vừa phải giúp các thành viên biết nhau, hiểu điều kiện từng vườn và dễ trao đổi khi phát sinh vấn đề. Nếu phạm vi trải rộng, ngay cả những người cùng đứng tên trong một mã số cũng khó biết các vườn còn lại đang được chăm sóc như thế nào.
Mã số khi ấy có thể lớn hơn trên bản đồ, nhưng liên kết bên trong lại lỏng. Những đường ranh nối các khu vườn không tự tạo thành một cộng đồng sản xuất. Điều quyết định vẫn là các thành viên có thực sự cùng thực hiện những cam kết đã thống nhất hay không.

Liên kết để bớt đơn độc khi bán hàng

Quyết định gia nhập tổ hợp tác của ông Huyên còn bắt nguồn từ những vụ tự đi bán sầu riêng. Mỗi khi trái gần đến tuổi thu hoạch, người mua vào vườn đánh giá mẫu mã, chất lượng rồi thỏa thuận giá. Nếu thị trường thuận lợi, việc cắt trái diễn ra theo kế hoạch. Khi giá giảm, thương lái có thể trì hoãn, thậm chí bỏ vườn để tìm nguồn hàng khác.

Với sầu riêng, thu hoạch chậm có thể làm thay đổi chất lượng cơm và tỷ lệ trái đáp ứng yêu cầu của người mua. Khi sầu riêng đạt 7-8 tuần tuổi, người trồng không còn nhiều thời gian chờ đợi. Một vài ngày với thương lái có thể là khoảng thời gian theo dõi giá, nhưng với chủ vườn, đó là những ngày thấp thỏm trước một tài sản trị giá hàng trăm triệu đồng.
Vụ trước, gia đình ông Huyên cùng một số hộ đã chịu thiệt trong tình cảnh như vậy. “Xuống một giá là mất cả chục triệu đồng”, ông nói. Mỗi giá tương ứng 1.000 đồng một kg.
Tổ hợp tác không thể ngăn thương lái bỏ vườn và mã số vùng trồng cũng không mặc nhiên bảo đảm đầu ra. Tuy nhiên, khi cùng tập hợp sản lượng, những hộ như ông Huyên có thể tạo ra một nguồn hàng đủ lớn để làm việc với người mua qua đầu mối chung.
Thay vì đợi thương lái đến từng vườn mới biết yêu cầu về chất lượng, tổ có thể chủ động tìm hiểu tiêu chuẩn, thời điểm cần hàng và cách phân loại sản phẩm. Nếu nắm trước diện tích, sản lượng dự kiến của cả vùng, đầu mối thu mua cũng có thêm thông tin để xây dựng kế hoạch.

Phía nhà vườn có thể biết đơn vị nào dự kiến liên kết, hàng hóa phải đáp ứng điều kiện gì và cách thức thu mua ra sao. Dù chưa thể loại bỏ những biến động của thị trường, việc đứng chung giúp từng hộ bớt đơn độc hơn khi tìm đầu ra.
Để những khả năng này trở thành lợi ích thực tế, tổ hợp tác Hải Sơn vẫn cần đi thêm một chặng đường. Sau nguồn hàng tập trung là yêu cầu tìm được doanh nghiệp, thống nhất tiêu chuẩn và từng bước chuyển những thỏa thuận miệng thành cam kết rõ ràng hơn.
Đó cũng là lý do UBND xã Krông Pắc muốn vận động thêm các hộ có vườn liền kề tự nguyện lập tổ hợp tác hoặc tham gia HTX sau vụ sầu riêng năm 2026. Đích đến không chỉ là tăng số tổ hay số mã vùng trồng, mà tạo ra những đầu mối đủ khả năng tập hợp người sản xuất, tiếp nhận kỹ thuật và kết nối người mua.
Nếu chỉ cùng đứng tên, người dân vẫn có thể trở về cách làm riêng dù tên họ còn nằm trong danh sách chung. Tổ hợp tác khi ấy chỉ tồn tại trên hồ sơ, còn từng hộ vẫn đơn độc lúc mua vật tư và tìm đầu ra.
Bởi vậy, ông Sơn chưa xem 13 chữ ký và bộ hồ sơ sắp hoàn thiện là một kết quả. Chúng mới đánh dấu thời điểm 13 nhà vườn đồng ý bước qua ranh giới của cách làm riêng lẻ. Giá trị của quyết định ấy sẽ không được đo bằng việc mã số được cấp sớm hay muộn, mà nằm ở khả năng những người đã ký tên tiếp tục liên kết với nhau trong mỗi mùa sầu riêng mang tên chung Hải Sơn.
Nguồn: Bảo Thắng - Đặng Giang Báo Nông nghiệp và Môi trường
Chi tiết bài báo xem tại đây


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam