Thị trường Thổ Nhĩ Kỳ - dư địa mới xuất khẩu nông sản, thực phẩm Việt

Thổ Nhĩ Kỳ sẽ là thị trường xuất khẩu nông sản, thực phẩm tiềm năng nếu doanh nghiệp Việt đáp ứng tiêu chuẩn Halal và quản trị rủi ro tốt.

Chiều 21/7, tại Hà Nội, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức Hội thảo "Cơ hội và thách thức phát triển thị trường Thổ Nhĩ Kỳ", tập trung vào các nhóm hàng nông sản, thủy sản, thực phẩm chế biến và đồ uống.

Hội thảo được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến, thu hút khoảng 150 đại biểu là đại diện các cơ quan quản lý, Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ, tổ chức xúc tiến thương mại, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã và các đối tác quan tâm đến thị trường này.

Phát biểu khai mạc, ông Tạ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư (Cục Xúc tiến thương mại), cho biết Thổ Nhĩ Kỳ đang nổi lên như một điểm đến chiến lược, giữ vai trò cửa ngõ kết nối ba châu lục Á, Âu và Phi.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1,39 tỷ USD, xuất khẩu của Việt Nam tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy dư địa đáng kể đối với hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là nông sản, thực phẩm và đồ uống.

Thị trường lớn nhưng sức ép chi phí cao

Trình bày tổng quan thị trường, bà Nguyễn Việt Hằng, Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ, cho biết quốc gia này có dân số khoảng 86,1 triệu người, nằm tại vị trí giao thương giữa châu Á, châu Âu và châu Phi.

Năm 2025, kim ngạch nhập khẩu thực phẩm và đồ uống của Thổ Nhĩ Kỳ đạt khoảng 26,3 tỷ USD, tăng 18,76%. Trong đó, 5 nhóm hàng gồm thức ăn chăn nuôi, dầu thực vật, đường và sản phẩm ca cao, các loại hạt, cà phê - trà - gia vị chiếm hơn một nửa tổng giá trị nhập khẩu.

Tuy nhiên, doanh nghiệp hoạt động tại thị trường này phải đối mặt với lạm phát cao, đồng lira mất giá, chi phí tín dụng lớn và thời gian thu hồi công nợ kéo dài. Điều này khiến nhà nhập khẩu ngày càng nhạy cảm về giá, ưu tiên nguyên liệu thô, bán thành phẩm và sản phẩm có thể chế biến, đóng gói trong nước.
Hành vi tiêu dùng cũng thay đổi rõ rệt khi người mua ưu tiên hàng nội địa, thực phẩm tiện lợi, sản phẩm tự nhiên, ít phụ gia và bao bì bền vững.

Đối với Việt Nam, hạt điều hiện chiếm khoảng 76,1% thị phần tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, lợi thế này đang chịu sức ép khi doanh nghiệp nước sở tại tăng nhập hạt điều thô từ Bờ Biển Ngà để tự chế biến. Trong khi đó, các mặt hàng như cà phê xanh, gạo, chè và thủy sản vẫn có thị phần khiêm tốn, mở ra dư địa để doanh nghiệp Việt mở rộng nếu lựa chọn đúng phân khúc.

Cơ hội từ sự bổ trợ giữa hai nền kinh tế

PGS.TS Đinh Công Hoàng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng cơ cấu sản xuất của Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ có tính bổ trợ rõ nét. Trong khi Thổ Nhĩ Kỳ mạnh về lúa mì, dầu ô liu, hạt phỉ và trái cây ôn đới, Việt Nam có lợi thế với cà phê, hồ tiêu, hạt điều, gạo thơm, gia vị và trái cây nhiệt đới.

Thủy sản cũng còn nhiều dư địa khi Thổ Nhĩ Kỳ đặt mục tiêu xuất khẩu 3 tỷ USD vào năm 2028, kéo theo nhu cầu nhập nguyên liệu. Cá tra, tôm, cá ngừ, mực và bạch tuộc có thể tiếp cận qua các chuỗi bán lẻ, kênh HORECA và thương mại điện tử.

Chia sẻ kinh nghiệm thực tế, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Hợp tác xã Hà Nội Xanh, CEO HalalViet, cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ là thị trường giàu tiềm năng nhưng doanh nghiệp không nên kỳ vọng có đơn hàng lớn ngay từ đầu. Muốn chinh phục thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, doanh nghiệp phải kiên trì xây dựng niềm tin, hiểu văn hóa tiêu dùng và đáp ứng đúng các tiêu chuẩn của thị trường Hồi giáo.
“Việc xây dựng thương hiệu tại thị trường Halal là một quá trình cần thời gian, cần đủ niềm tin để bước vào, chứ không phải là thị trường có thể ngay lập tức cho kết quả”, bà Thu chia sẻ.
Doanh nghiệp cần chuẩn bị đồng bộ từ lựa chọn sản phẩm, xác định phân khúc, chứng nhận Halal, hoàn thiện hồ sơ, bao bì đa ngôn ngữ, tìm kiếm đối tác đến triển khai các đơn hàng thử nghiệm. Trong đó, Halal không chỉ là giấy chứng nhận mà còn là "tấm hộ chiếu" tạo dựng niềm tin với nhà nhập khẩu.
Từ kinh nghiệm tham gia nhiều hội chợ quốc tế, việc công khai các chứng nhận ngay tại gian hàng, chuẩn bị sản phẩm mẫu để đối tác trực tiếp trải nghiệm và đầu tư bao bì bằng tiếng Anh hoặc ngôn ngữ bản địa giúp gia tăng đáng kể cơ hội tiếp cận khách hàng.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Thu cho rằng, doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã vẫn có nhiều cơ hội tiếp cận thị trường Thổ Nhĩ Kỳ nếu chủ động liên kết, chia sẻ nguồn lực và xây dựng hệ sinh thái. Tuy nhiên, để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần chuẩn bị bài bản từ chứng nhận Halal, đáp ứng hệ thống TROIS đối với một số nhóm hàng đến việc tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc.

Ở góc độ tài chính, bà Vũ Thị Thùy Linh, CFA, Giám đốc Phát triển kinh doanh ngoại hối, Ngân hàng MSB, lưu ý doanh nghiệp xuất khẩu thường đối mặt với 5 nhóm rủi ro gồm đối tác, thanh toán, tỷ giá, lãi suất và thiếu vốn lưu động. Doanh nghiệp cần thẩm định kỹ người mua, lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp, thiết kế hợp đồng chặt chẽ và chủ động sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ, bảo hiểm thanh toán và tài trợ theo đơn hàng để ổn định doanh thu và bảo vệ biên lợi nhuận.
Phát biểu bế mạc, bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư, nhấn mạnh Cục Xúc tiến thương mại sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp thông qua cung cấp thông tin thị trường, kết nối giao thương và các hoạt động xúc tiến, góp phần đưa hàng Việt tiếp cận sâu hơn thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và các nước trong khu vực.
Nguồn: Thanh Trang Báo Nông nghiệp và Môi trường
Chi tiết bài báo xem tại đây


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam