Đề án Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 – 2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định khoảng 250 - 300 vùng có tiềm năng trên phạm vi cả nước để rà soát, xác định và lựa chọn đầu tư. Đề án lưu ý, doanh nghiệp và thị trường phải tham gia từ sớm, không chờ đến khi hoàn thành đầu tư mới tìm đầu ra.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả Đề án thí điểm Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2022 - 2025 đã khẳng định mô hình phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với kết cấu hạ tầng, HTX và doanh nghiệp là phù hợp, có hiệu quả và có khả năng nhân rộng. Đầu tư công đã phát huy vai trò dẫn dắt, huy động mạnh nguồn lực xã hội; HTX từng bước trở thành trung tâm tổ chức sản xuất; doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; nhiều vùng nguyên liệu đã đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Đề án thí điểm đã tạo ra sự thay đổi không chỉ về quy mô diện tích mà quan trọng hơn là thay đổi phương thức tổ chức và vận hành vùng nguyên liệu: vùng sản xuất từng bước chuyển từ sản xuất phân tán sang vùng sản xuất có tổ chức. HTX chuyển từ đơn vị sản xuất, cung ứng dịch vụ sang đầu mối tổ chức và điều phối chuỗi.
Doanh nghiệp chuyển từ thu mua đơn thuần sang tham gia sâu hơn vào tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ; hạ tầng được đầu tư gắn với yêu cầu của chuỗi giá trị; tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành điều kiện của thị trường.

Tuy nhiên, việc phát triển vùng nguyên liệu trên phạm vi cả nước vẫn còn thiếu đồng bộ về quy hoạch, hạ tầng, tổ chức sản xuất, dữ liệu số và cơ chế liên kết.
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng để triển khai đề án trong giai đoạn mới, 2026 - 2030.
Một là, lựa chọn đúng vùng nguyên liệu và đúng điểm nghẽn là yếu tố quyết định hiệu quả đầu tư. Vùng nguyên liệu chỉ phát triển bền vững khi đồng thời có điều kiện về sản phẩm, thị trường, tổ chức sản xuất, doanh nghiệp tham gia liên kết và khả năng đầu tư, duy trì sau đầu tư. Hạ tầng được ưu tiên phải là hạ tầng thực sự là điểm nghẽn của chuỗi, có phạm vi phục vụ rộng, tạo tác động giảm chi phí, giảm tổn thất và kết nối trực tiếp với cơ sở thu gom, sơ chế, chế biến và thị trường.
Hai là, tổ chức sản xuất và HTX phải được chuẩn bị trước và đồng thời với đầu tư hạ tầng. Thực tiễn cho thấy hạ tầng chỉ phát huy hiệu quả khi có tổ chức sản xuất đủ năng lực quản lý, vận hành và khai thác.
Vì vậy, việc củng cố HTX, nâng cao năng lực quản trị, xây dựng phương án tổ chức sản xuất và cơ chế phối hợp giữa HTX với doanh nghiệp phải là điều kiện quan trọng trong lựa chọn và triển khai vùng nguyên liệu.
Ba là, doanh nghiệp và thị trường phải tham gia từ sớm, không chờ đến khi hoàn thành đầu tư mới tìm đầu ra. Các vùng có doanh nghiệp tham gia ngay từ quá trình xác định sản phẩm, tiêu chuẩn, quy mô, phương thức thu mua và yêu cầu đầu tư có khả năng hình thành liên kết ổn định hơn.
Do đó, giai đoạn 2026-2030 cần ưu tiên các vùng có nhu cầu thị trường rõ ràng, doanh nghiệp có năng lực chế biến, tiêu thụ và cam kết liên kết.

Bốn là, tạo sự đồng thuận của người dân là điều kiện để tổ chức lại sản xuất và triển khai đầu tư. Việc công khai mục tiêu, phương án đầu tư, phạm vi hưởng lợi và trách nhiệm của các bên; huy động người dân, HTX tham gia từ khâu chuẩn bị dự án; đồng thời bảo đảm lợi ích trực tiếp của người sản xuất sẽ tạo đồng thuận và hạn chế vướng mắc về mặt bằng, tổ chức sản xuất và vận hành công trình.
Năm là, ngân sách nhà nước cần đóng vai trò vốn mồi, tập trung vào hạ tầng công cộng và nhiệm vụ tạo tác động lan tỏa. Những hạng mục trực tiếp phục vụ sản xuất, chế biến, kinh doanh và thương mại cần được huy động từ doanh nghiệp, HTX, người sản xuất và các nguồn vốn hợp pháp khác. Việc lựa chọn đầu tư phải gắn với khả năng huy động vốn đối ứng và nguồn lực xã hội.
Sáu là, phải chuẩn hóa quy trình từ lựa chọn vùng, xác định điểm nghẽn, lập dự án, chuẩn bị đầu tư đến tổ chức thực hiện và đánh giá sau đầu tư. Khâu chuẩn bị không đầy đủ, hồ sơ phải điều chỉnh nhiều lần hoặc phối hợp chưa đồng bộ có thể làm kéo dài tiến độ. Do đó, giai đoạn mới cần chuẩn hóa hồ sơ, tiêu chí lựa chọn, trình tự đánh giá, xác định đường cơ sở và phương án quản lý, vận hành, bảo trì ngay từ khi đề xuất dự án.
Bảy là, phát triển vùng nguyên liệu phải gắn ngay từ đầu với dữ liệu, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Quản lý vùng nguyên liệu trong giai đoạn mới không chỉ dựa trên diện tích mà phải dựa trên dữ liệu về chủ thể, sản lượng, tiêu chuẩn, mã số, liên kết và kết quả sản xuất, qua đó nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.
Tám là, đánh giá hiệu quả phải dựa trên kết quả và tác động, không chỉ dựa trên khối lượng đầu tư. Hiệu quả của vùng nguyên liệu cần được đánh giá thông qua mức độ mở rộng liên kết, sản lượng tiêu thụ theo hợp đồng, giảm chi phí logistics, giảm tổn thất, tăng doanh thu HTX, tăng thu nhập người sản xuất và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Đây cũng là cơ sở để lựa chọn, điều chỉnh và ưu tiên nguồn lực trong quá trình thực hiện.
Nguồn: Thiên Hương Báo Dân Trí