Mở không gian mới cho quan hệ thương mại nông sản Việt - Trung

Diễn đàn Kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ I là nền tảng để thúc đẩy các cơ hội hợp tác thương mại nông sản giữa hai nước.

Diễn đàn Kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ I, diễn ra tại TP.HCM (sáng 24/6) quy tụ đại diện cơ quan quản lý, tổ chức ngoại giao, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp dịch vụ của hai nước.
Chương trình do Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.HCM, Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam phối hợp tổ chức.

Mục tiêu nhằm tập trung vào những vấn đề đang tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu, từ tổ chức sản xuất, chế biến, xúc tiến thương mại đến kiểm định chất lượng, thanh toán xuyên biên giới và kết nối doanh nghiệp. Các mặt hàng được giới thiệu tại diễn đàn gồm sầu riêng, chuối, thanh long, dứa, bưởi, chanh dây, dừa, cà phê và hồ tiêu.

Phiên khai mạc có sự tham dự, phát biểu của ông Hà Vĩ, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam; ông Nguyễn Minh Vũ, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao; ông Chương Lâm, Chủ tịch Hội Doanh nhân Trung Quốc tại Việt Nam - Chi hội TP.HCM, cùng lãnh đạo Hiệp hội Rau quả Việt Nam.

Mở không gian mới cho quan hệ thương mại nông sản Việt - Trung

Phát biểu bế mạc Diễn đàn, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết diễn đàn đã đạt được nhiều kết quả tích cực, hoàn thành toàn bộ nội dung đề ra.
Các tham luận đã tập trung phân tích nhiều vấn đề quan trọng đối với hợp tác thương mại nông sản giữa hai nước, từ mở cửa thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, dịch vụ tài chính, logistics đến chế biến sâu và phát triển chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, những ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo các bộ, ngành và cơ quan ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc mở ra nhiều định hướng quan trọng, góp phần mở rộng không gian mới cho quan hệ thương mại nông sản song phương.
“Các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao những nội dung được trao đổi tại diễn đàn. Chúng tôi đồng thời tin tưởng đây sẽ là nền tảng để thúc đẩy các cơ hội hợp tác thực chất, tăng cường kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng nông sản của hai nước”, ông cho biết.

Nhân dịp này, Ban Tổ chức gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo các cơ quan trung ương, đại biểu, diễn giả, doanh nghiệp cùng các cơ quan báo chí, truyền thông đã tham dự và góp phần vào thành công của sự kiện. Diễn đàn Thương mại Nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất khép lại với kỳ vọng mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu rộng và hiệu quả hơn trong lĩnh vực nông nghiệp giữa hai quốc gia. 

Từ câu chuyện ngành chuối đến giao thương rau quả Việt - Trung

Chia sẻ tại Diễn đàn, ông Phạm Quốc Liêm, Chủ tịch HĐQT Unifarm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng câu chuyện của ngành chuối là minh chứng rõ nét cho tiềm năng phát triển của ngành rau quả Việt Nam cũng như cơ hội hợp tác rộng mở với thị trường Trung Quốc.

Theo ông Liêm, Trung Quốc hiện có hơn 1,4 tỷ người tiêu dùng và mỗi năm nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD chuối. Trong khi đó, ngành chuối Việt Nam cũng đang hướng tới mục tiêu đạt 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu trong những năm tới.

Tuy nhiên, cơ hội không tự tạo ra giá trị. Giá trị chỉ được hình thành khi sản phẩm được xây dựng trên nền tảng khoa học công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và niềm tin của thị trường. Hiện nay, thị trường chuối toàn cầu có quy mô khoảng 16,7 tỷ USD mỗi năm. Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới với kim ngạch khoảng 418,7 triệu USD và diện tích sản xuất khoảng 161.000 ha.

Theo ông Liêm, Việt Nam có nhiều lợi thế về khí hậu, vị trí địa lý gần các thị trường tiêu thụ lớn của châu Á, cùng điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, để nâng kim ngạch từ hơn 400 triệu USD lên 1 tỷ USD, ngành chuối không thể chỉ tăng diện tích hay sản lượng mà phải nâng cao giá trị trên mỗi quả chuối và trên toàn bộ chuỗi cung ứng, từ giống cây trồng, vùng nguyên liệu, sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ.

Chia sẻ từ thực tiễn của Unifarm, ông Liêm cho biết doanh nghiệp đã phát triển hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao theo hướng sinh học, lấy giống cây trồng làm nền tảng. Nổi bật là giống chuối Uni126 có khả năng chống chịu bệnh Panama đạt 95-98%, cùng hơn 1.500 ha vùng sản xuất quy mô lớn được quản lý theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt.

Doanh nghiệp cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Theo ông Liêm, điều quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp không phải là công nghệ mà là chất lượng. Tiêu chuẩn phải được kiểm soát từ giống cây trồng, vùng nguyên liệu đến từng công đoạn sản xuất. Đây cũng là lý do sản phẩm của Unifarm hiện đã có mặt tại nhiều thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore và Trung Đông.

Dư địa tăng trưởng nằm ở sản phẩm chế biến

Dư địa tăng trưởng lớn nhất trong những năm tới có thể không nằm ở trái cây tươi mà ở các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao hơn, theo ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO).

Một trong những nguyên nhân là do sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu, ngành thực phẩm - đồ uống và hệ thống bán lẻ hiện đại tại Trung Quốc đang làm thay đổi nhu cầu thị trường. Thay vì chỉ nhập khẩu trái cây tươi, các doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng có nhu cầu lớn đối với nước quả cô đặc, nước ép, puree trái cây, rau quả đông lạnh, đồ hộp và nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp thực phẩm. Đây là những phân khúc có giá trị gia tăng cao, ít phụ thuộc mùa vụ và có khả năng tiêu thụ ổn định hơn.

Theo lãnh đạo DOVECO, chế biến sâu còn giúp giải quyết nhiều điểm nghẽn kéo dài của ngành rau quả như áp lực tiêu thụ khi thu hoạch tập trung, tình trạng được mùa mất giá, tổn thất sau thu hoạch và chi phí logistics.

Một tấn trái cây khi được chế biến thành nước quả cô đặc, sản phẩm đông lạnh hay đồ hộp có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn đáng kể so với xuất khẩu nguyên liệu thô. Bổ sung cho yếu tố này còn là quan hệ nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc mang tính bổ trợ nhiều hơn cạnh tranh. Trong khi Việt Nam có lợi thế về nguồn nguyên liệu nhiệt đới như dứa, chanh leo, xoài, chuối và các sản phẩm chế biến từ rau quả nhiệt đới, Trung Quốc lại có thế mạnh về trái cây ôn đới, hệ thống logistics, phân phối và thị trường tiêu dùng quy mô lớn.

Kết quả khảo sát thực tế của DOVECO tại các trung tâm logistics và doanh nghiệp chế biến ở Ninh Ba, Chiết Giang và Hồ Bắc trong tháng 5/2026 cho thấy, nhu cầu của doanh nghiệp Trung Quốc đối với nguyên liệu và sản phẩm chế biến từ trái cây nhiệt đới Việt Nam rất lớn. Nhiều tập đoàn chế biến thực phẩm của Trung Quốc đang quan tâm đến nước quả cô đặc, puree, rau quả đông lạnh và các sản phẩm chế biến từ dứa, chanh leo hay xoài.

Theo ông Khuê, giai đoạn hợp tác tiếp theo giữa hai nước không nên chỉ dừng ở xuất khẩu nông sản tươi mà cần mở rộng sang liên kết vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến, phát triển kho lạnh, logistics và hệ thống phân phối. Khi đó, nông sản Việt Nam không chỉ bán được nhiều hơn mà còn giữ lại được phần giá trị lớn hơn trong chuỗi cung ứng.

Cần 'luồng xanh' cho vùng trồng rau quả xuất khẩu đạt chuẩn sang Trung Quốc

Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group, cho rằng một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là quá trình thẩm định và cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đây là điều kiện bắt buộc để nông sản được xuất khẩu chính ngạch vào Trung Quốc, nhưng tốc độ phê duyệt hiện vẫn chưa theo kịp nhu cầu mở rộng sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp.

"Sự chậm trễ này không chỉ làm lỡ nhịp giao thương mà còn làm gia tăng chi phí cơ hội cho cả nông dân Việt Nam và các nhà nhập khẩu Trung Quốc", ông Tùng nhận định.

Để tháo gỡ khó khăn, đại diện Vina T&T Group đề xuất Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) tăng cường tần suất kiểm tra trực tuyến đối với các hồ sơ đã nộp hoặc nghiên cứu cơ chế phối hợp với các tổ chức giám định uy tín tại Việt Nam nhằm hỗ trợ đánh giá sơ bộ, qua đó đẩy nhanh quá trình phê duyệt.

Bên cạnh đó, ông kiến nghị xây dựng cơ chế "luồng xanh" đối với các doanh nghiệp, vùng trồng và cơ sở đóng gói có lịch sử tuân thủ tốt, đã áp dụng thành công các mô hình sản xuất xanh và truy xuất nguồn gốc. Việc giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế tại cửa khẩu sẽ giúp rút ngắn thời gian thông quan, bảo đảm chất lượng nông sản khi đến tay người tiêu dùng.

Ông Tùng cũng đề xuất cơ quan chức năng hai nước sớm xây dựng hệ thống dữ liệu số dùng chung, cho phép cập nhật tình trạng mã số vùng trồng theo thời gian thực. Theo ông, đây là giải pháp quan trọng để tăng tính minh bạch, hỗ trợ doanh nghiệp tra cứu thuận lợi hơn và ngăn chặn tình trạng gian lận, mạo danh mã số đang ảnh hưởng đến uy tín của ngành hàng xuất khẩu.

TP. Đông Phương (Trung Quốc) rộng cửa chào đón doanh nghiệp Việt Nam

Chia sẻ tại Diễn đàn, từ góc nhìn của địa phương phía Trung Quốc, ông Lý Ái Hoa, Bí thư Thành ủy thành phố Đông Phương, tỉnh Hải Nam, cho biết: Đông Phương nằm ở phía Tây Nam đảo Hải Nam, là địa phương của Trung Quốc có vị trí gần Việt Nam nhất và là một trong những cửa ngõ quan trọng kết nối Hải Nam với Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á.

Chính quyền thành phố đang tích cực thúc đẩy các tuyến vận tải, logistics và thương mại mới giữa Hải Nam và Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao thương hàng hóa, đặc biệt là nông sản. Đông Phương cam kết xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi và hiệu quả, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất và phát triển lâu dài.

Nhân dịp này, ông Lý Ái Hoa trân trọng mời Hiệp hội Rau quả Việt Nam cùng các doanh nghiệp Việt Nam đến thành phố Đông Phương khảo sát, tìm hiểu cơ hội hợp tác, đầu tư và cùng khai thác hiệu quả tiềm năng hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai bên.

Niềm tin chất lượng là nền tảng thúc đẩy thương mại nông sản Việt - Trung

Ông Lương Đức Vinh, đại diện Tập đoàn Kiểm định và Chứng nhận Trung Quốc (CCIC) khu vực Tây Nam, cho rằng việc hài hòa tiêu chuẩn kiểm nghiệm, tăng cường truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ số sẽ là chìa khóa để nâng cao hiệu quả thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ông Vinh cho biết nhiều vướng mắc hiện nay trong hoạt động xuất khẩu nông sản không nằm ở nhu cầu thị trường mà xuất phát từ sự khác biệt về tiêu chuẩn kiểm nghiệm, phương pháp đánh giá chất lượng và yêu cầu quản lý giữa các bên.

Theo ông, trong quá trình làm việc với các cơ quan quản lý và doanh nghiệp tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar, CCIC nhận thấy nhiều trường hợp phát sinh ách tắc do kết quả kiểm nghiệm giữa các phòng thí nghiệm chưa đồng nhất hoặc chưa có cơ chế đối chiếu, công nhận lẫn nhau. Vì vậy, đơn vị này đang phối hợp với các cơ quan chức năng và phòng thí nghiệm của các nước ASEAN để thực hiện các chương trình so sánh kết quả kiểm nghiệm với hệ thống phòng thí nghiệm của Hải quan Trung Quốc, hướng tới tăng tính tương thích về tiêu chuẩn kỹ thuật.

Một trong những giải pháp được CCIC tập trung triển khai là mô hình truy xuất nguồn gốc kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) đối với sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc. Theo ông Vinh, hệ thống này cho phép số hóa toàn bộ quá trình từ vùng trồng, đóng gói, vận chuyển đến thông quan, đồng thời kết nối dữ liệu với hệ thống quản lý của cơ quan hải quan.

Kết quả thử nghiệm ban đầu cho thấy thời gian thông quan được rút ngắn đáng kể. Nếu trước đây một lô hàng sầu riêng có thể mất từ vài ngày để hoàn tất thủ tục kiểm tra và thông quan, thì với mô hình mới, nhiều lô hàng đã được xử lý trong vòng 24 giờ, thậm chí có trường hợp chỉ mất khoảng 3 giờ.

Đại diện CCIC cho biết mục tiêu tiếp theo là mở rộng mô hình này sang các mặt hàng nông sản và thủy sản khác, đồng thời thúc đẩy việc kết nối dữ liệu truy xuất nguồn gốc với cơ chế một cửa và hệ thống hải quan thông minh của Trung Quốc.

Bên cạnh công nghệ, ông Vinh nhấn mạnh vai trò của hạ tầng chất lượng trong thương mại nông sản, bao gồm hệ thống kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn kỹ thuật. Theo ông, niềm tin về chất lượng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy thương mại nông sản phát triển bền vững, giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả thông quan và tạo điều kiện để nhiều nông sản chất lượng cao của Việt Nam tiếp cận thị trường Trung Quốc thuận lợi hơn trong thời gian tới.

Ba mô hình tài chính hỗ trợ kết nối thanh toán hai chiều

Bà Châu Diệp, Tổng Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp Hongkong (Trung Quốc) tại Hà Nội, khẳng định chiến lược phát triển của ngân hàng luôn bám sát mục tiêu phục vụ “tam nông”, bao gồm ba trụ cột: tài chính nông nghiệp - nông thôn, tài chính xanh và vận hành số.

Chi nhánh Hà Nội chính thức đi vào hoạt động từ năm 2018. Là một trong những ngân hàng Trung Quốc đầu tiên triển khai thanh toán thương mại biên giới Trung - Việt, bà Châu Diệp cho biết đã phát triển hơn 30 loại hình dịch vụ tài chính biên giới. Tổng số khách hàng doanh nghiệp được phục vụ đạt khoảng 4.000 doanh nghiệp, với hơn 700.000 lượt giao dịch của cư dân biên giới và tổng giá trị thanh toán đạt khoảng 3.000 tỷ NDT, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng trong thúc đẩy giao thương song phương.

“Đối với hợp tác nông nghiệp Việt - Trung, chúng tôi xây dựng các gói giải pháp tài chính tùy chỉnh nhằm giải quyết những thách thức phổ biến như chuỗi thanh toán kéo dài, khó tiếp cận vốn, thiếu tài sản bảo đảm và tối ưu chi phí tài chính”, lãnh đạo Ngân hàng nói.

Ba mô hình ứng dụng tiêu biểu: Thứ nhất, kết nối cơ hội kinh doanh gắn với thanh toán nội tệ, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường thông qua nền tảng kết nối cung cầu xuyên biên giới, đồng thời sử dụng thanh toán trực tiếp NDT - VNĐ để giảm chi phí và hạn chế rủi ro tỷ giá.

Thứ hai, kết hợp tài trợ thương mại với thanh toán biên giới, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp nông sản hai nước, đặc biệt trong mùa vụ, đồng thời hỗ trợ tín dụng dựa trên dữ liệu thương mại, qua đó giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp.

Thứ ba, tài trợ cho các dự án đầu tư nông nghiệp quy mô lớn, thông qua mô hình đồng tài trợ và hợp tác liên ngân hàng, huy động nguồn lực trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn, thiết kế cấu trúc đa tiền tệ nhằm giảm thiểu rủi ro tỷ giá.

Nông sản Việt cần đổi cách bán hàng

Thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 2/3 kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam, nhưng những thay đổi về tiêu chuẩn nhập khẩu, phương thức phân phối và cạnh tranh khu vực đang buộc doanh nghiệp trong nước phải chuyển từ tư duy bán hàng sang xây dựng chuỗi giá trị.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) chia sẻ điều này và nói thêm, rằng nhu cầu đối với các loại trái cây nhiệt đới của Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh. Việc hai nước ký thêm nhiều nghị định thư xuất khẩu ớt, chanh leo, cám gạo, tổ yến, mít, cùng với mở cửa thị trường cho bưởi, chanh đã tạo thêm cơ hội cho nông sản.

Năm 2025, xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 8,56 tỷ USD, tăng gần 20% so với năm trước. Riêng thị trường Trung Quốc đạt khoảng 5,5 tỷ USD. Ngoài kênh truyền thống, một thay đổi đáng chú ý là sự phát triển mạnh của thương mại điện tử Trung Quốc. Các nền tảng bán lẻ trực tuyến và hệ thống phân phối hiện đại tại đây đang dần thay thế vai trò của chợ đầu mối truyền thống.

Về logistics, hạ tầng kết nối xuyên biên giới giữa hai nước đang được cải thiện đáng kể. Các tuyến vận tải mới và hệ thống cửa khẩu thông minh giúp rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí và nâng cao năng lực thông quan. Tuy nhiên, cơ hội đang đi kèm với áp lực ngày càng lớn. Trung Quốc liên tục hoàn thiện các quy định quản lý nhập khẩu, yêu cầu khắt khe hơn về vùng trồng, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm.

Nhiều quốc gia trong khu vực cũng đang gia tăng hiện diện tại thị trường này. Philippines gần như thống lĩnh thị trường dứa, trong khi nhiều mặt hàng khác của Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm từ Thái Lan, Lào và các nước ASEAN.

Theo ông Phú, thành công của sầu riêng cho thấy tiềm năng rất lớn của nông sản Việt Nam tại Trung Quốc, nhưng không thể mặc nhiên lặp lại với các mặt hàng khác. Nếu tiếp tục phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô và cạnh tranh bằng giá, dư địa tăng trưởng sẽ ngày càng thu hẹp.

Vì vậy, trọng tâm trong giai đoạn tới không chỉ là mở cửa thị trường mà là xây hệ sinh thái xuất khẩu bền vững. Điều này bao gồm phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đầu tư chế biến sâu, nâng cao năng lực logistics và chuỗi lạnh, đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới, đồng thời tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp.

Đề xuất 3 động lực mới thúc đẩy hợp tác nông nghiệp Việt - Trung

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Chương Lâm, Chủ tịch Hội Doanh nhân Trung Quốc tại Việt Nam - Chi hội TP.HCM, nhấn mạnh: Nông nghiệp không chỉ gắn với đời sống người dân mà còn là nền tảng quan trọng bảo đảm ổn định xã hội và an sinh quốc gia. Vì vậy, diễn đàn là cơ hội để hai bên cùng trao đổi các giải pháp thúc đẩy hợp tác nông nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương.

Ông cho rằng quá trình nâng cấp hợp tác nông nghiệp Việt - Trung hiện nay được thúc đẩy bởi ba động lực chính. Trước hết là nền tảng tin cậy chính trị ngày càng được củng cố. Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc hồi tháng 4 đã tạo thêm động lực cho quan hệ song phương, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp. Các thỏa thuận và tuyên bố chung giữa hai nước đều nhấn mạnh việc mở rộng hợp tác về thị trường nông sản và công nghệ nông nghiệp.

Bên cạnh đó, kết nối hạ tầng và logistics đang tạo ra những bước tiến mới cho thương mại nông sản. Mạng lưới vận tải đa phương thức giữa hai nước ngày càng hoàn thiện với sự kết hợp của đường bộ, đường sắt, đường biển và hàng không.

Hệ thống “luồng xanh” dành cho nông sản, cùng với các trung tâm logistics và kho lạnh hiện đại tại khu vực cửa khẩu, góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển, nâng cao hiệu quả thông quan và giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Cuối cùng, chuyển đổi số là động lực quan trọng cho phát triển nông nghiệp xanh. Việc xây dựng hải quan thông minh, cửa khẩu thông minh và ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc bằng mã QR đang giúp nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm soát chất lượng và niềm tin của người tiêu dùng đối với nông sản. Nhờ đó, các sản phẩm như sầu riêng, tổ yến của Việt Nam có thể được quản lý xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu thụ.

Để có thể tận dụng tối đa lợi thế của mình, ông Chương Lâm đề xuất ba định hướng trọng tâm cho nông sản Việt Nam: Thứ nhất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp, tăng cường quản lý chất lượng từ khâu sản xuất, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu nông sản xanh.

Thứ hai, phát huy vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp trong kết nối thị trường, thúc đẩy nghiên cứu phát triển, đầu tư chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.

Thứ ba, tăng cường tính tự cường của toàn chuỗi ngành hàng thông qua hợp tác trong các lĩnh vực chế biến, kho bãi, logistics, đồng thời thúc đẩy hài hòa tiêu chuẩn, chính sách và trao đổi kinh nghiệm về nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh.

“Chúng tôi ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp hai nước trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác nông nghiệp ngày càng hiệu quả và bền vững. Tôi mong rằng TP.HCM sẽ tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu kinh tế, dựa vào lợi thế nằm cận kề ‘vựa lúa lớn’ ĐBSCL, làm tốt vai trò là đội quân tiên phong trong hợp tác nông nghiệp Trung - Việt.

Trong hành trình này, Đại sứ quán và Lãnh sự quán Trung Quốc tại Việt Nam sẵn sàng hợp tác để mang lại nhiều thành quả tốt đẹp hơn nữa cho hợp tác thương mại nông nghiệp Trung Quốc - Việt Nam trong thời gian tới”, ông chia sẻ.

Tăng chế biến, chuẩn hóa vùng trồng để chinh phục thị trường Trung Quốc

Chia sẻ tại Diễn đàn, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết: Những năm qua, ngành rau quả Việt Nam phát triển mạnh cả về quy mô sản xuất và xuất khẩu, trở thành một trong những ngành hàng tăng trưởng nhanh nhất của lĩnh vực trồng trọt, đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị gia tăng cho nông nghiệp.

Theo ông Mạnh, công tác mở cửa thị trường đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt với Trung Quốc, là thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam. Hai nước đã ký nhiều nghị định thư cho các sản phẩm như sầu riêng, măng cụt, mít, chuối, dừa, chanh leo, khoai lang, thạch đen và sầu riêng đông lạnh. Đồng thời, hai bên đang tiếp tục đàm phán, hoàn thiện điều kiện xuất khẩu đối với nhãn, vải, chôm chôm, xoài, thanh long và nhóm cây có múi.

Trong cơ cấu xuất khẩu hiện nay, sầu riêng là ngành hàng tăng trưởng nổi bật nhất. Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam xuất khẩu hơn 3 triệu tấn sầu riêng tươi và gần 190.000 tấn sầu riêng đông lạnh. Hiện có 28 quốc gia nhập khẩu sầu riêng tươi và hơn 20 quốc gia nhập khẩu sầu riêng đông lạnh của Việt Nam, trong đó Trung Quốc chiếm trên 95% khối lượng xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 3,2 triệu tấn mít tới các quốc gia, trong đó khoảng 99% sản lượng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Những kết quả này cho thấy tiềm năng rất lớn của ngành rau quả Việt Nam tại thị trường 1,4 tỷ dân. Tuy nhiên, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, bảo vệ môi trường và giảm phát thải carbon.

Riêng Trung Quốc đang siết chặt quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và các yêu cầu về kiểm dịch thực vật. Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, đây là thời điểm ngành rau quả phải chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên sản lượng sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, giá trị và phát triển bền vững.

Đối với thị trường Trung Quốc, định hướng không chỉ dừng ở xuất khẩu sản phẩm tươi mà cần đẩy mạnh chế biến, chế biến sâu, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tăng cường truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện hệ thống logistics.

"Ngành rau quả Việt Nam cần chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Từ xuất khẩu những gì chúng ta có sang sản xuất những gì thị trường cần. Chỉ khi đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, minh bạch và phát triển bền vững, rau quả Việt Nam mới có thể nâng cao giá trị và mở rộng thị phần trên thị trường quốc tế", ông Nguyễn Quốc Mạnh nhấn mạnh.

Thương mại nông sản là điểm sáng trong hợp tác kinh tế Việt - Trung

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ đánh giá cao sáng kiến lần đầu tiên tổ chức diễn đàn, coi đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước đang phát triển mạnh mẽ.

Theo ông, sự tham dự đông đủ của đại diện Đại sứ quán, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và tổ chức xúc tiến thương mại của Việt Nam và Trung Quốc cho thấy tầm quan trọng của diễn đàn cũng như nhu cầu ngày càng lớn trong việc tăng cường kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị nông sản.

Đây là cơ hội để cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp hai bên trao đổi thông tin, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy thương mại nông sản, qua đó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân hai nước.

“Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, trong đó hợp tác kinh tế - thương mại, đặc biệt là thương mại nông sản, đã ghi nhận nhiều kết quả nổi bật qua từng năm”, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nhấn mạnh.

Dư địa hợp tác giữa hai nước vẫn còn rất lớn trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, an toàn và thông minh đang ngày càng phát triển. Để khai thác hiệu quả tiềm năng này, ông đề xuất ba định hướng trọng tâm.

Thứ nhất, hiện thực hóa tư tưởng của Tổng Bí thư hai nước về việc chuyển từ giao thương đơn thuần sang xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng và tiêu thụ nông sản bền vững.

Thứ hai, đẩy nhanh quy trình, thủ tục mở cửa thị trường đối với nông sản. Các cơ quan chức năng hai nước cần tăng tốc đánh giá rủi ro, hoàn thiện thủ tục kỹ thuật đối với các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu; đồng thời tăng cường hợp tác về tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, việc trao đổi chính sách thường xuyên và xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh sẽ góp phần tạo môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và thuận lợi cho doanh nghiệp.

Thứ ba, tận dụng hiệu quả các nền tảng thương mại điện tử và kinh tế số để tạo bước chuyển mới về phương thức, tốc độ và hiệu quả của thương mại nông sản.

Theo Thứ trưởng Thường trực, việc mở rộng kết nối trực tiếp giữa các chủ thể trong chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ sẽ giúp giảm chi phí trung gian, tối ưu hóa giá thành sản phẩm, mang lại lợi ích bền vững của thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc.

Hợp tác nông nghiệp Việt - Trung chuyển từ thương mại sang chuỗi cung ứng

Phát biểu tại Diễn đàn Thương mại Rau quả và Nông sản Việt Nam - Trung Quốc, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ cho biết, hợp tác nông nghiệp giữa hai nước đang bước vào giai đoạn phát triển sâu rộng hơn, chuyển dần từ trao đổi thương mại nông sản sang xây dựng chuỗi cung ứng toàn diện.

Theo ông, Trung Quốc hiện là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Trong quý I năm nay, xuất khẩu nông sản, thực phẩm của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 37,4%, cao gấp hơn 6 lần tốc độ tăng trưởng chung.

Đại sứ Hà Vĩ dẫn số liệu cho thấy năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đã vượt 290 tỷ USD. Riêng lĩnh vực rau quả, Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp lớn thứ hai cho thị trường Trung Quốc với 22,55% thị phần.

Xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc đạt 5,5 tỷ USD, chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Trong đó, sầu riêng là mặt hàng nổi bật nhất với sản lượng xuất khẩu đạt 941.000 tấn, tương đương gần 2.600 tấn mỗi ngày được vận chuyển sang Trung Quốc.

Theo Đại sứ Hà Vĩ, việc ngày càng nhiều loại nông sản Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc không chỉ mở rộng đầu ra ổn định cho nông dân mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Trung Quốc đối với các sản phẩm nhiệt đới chất lượng cao.

Hiện Việt Nam đã có hơn 20 loại rau quả được phép xuất khẩu chính ngạch vào thị trường này. Đánh giá triển vọng hợp tác thời gian tới, ông Hà Vĩ cho rằng hai nước đang có nhiều điều kiện thuận lợi để nâng tầm hợp tác nông nghiệp nhờ nền tảng tin cậy chính trị, sự cải thiện kết nối hạ tầng và quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực thương mại nông sản.

Ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của hải quan thông minh, cửa khẩu thông minh và công nghệ truy xuất nguồn gốc trong việc nâng cao hiệu quả thông quan, giảm chi phí logistics và tăng tính minh bạch của chuỗi cung ứng.

Đại sứ Trung Quốc cũng đề xuất hai bên tăng cường ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp chế biến và logistics, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu của toàn chuỗi ngành hàng. Theo ông, với thị trường hơn 1,4 tỷ dân và nhu cầu ngày càng lớn đối với nông sản chất lượng cao, Trung Quốc sẽ tiếp tục là thị trường giàu tiềm năng đối với nông sản Việt Nam trong thời gian tới.

Muốn giữ thị trường Trung Quốc, nông sản Việt phải đi bằng chất lượng

Trong nhiều năm, lợi thế lớn nhất của nông sản Việt là nguồn cung dồi dào, vị trí địa lý gần Trung Quốc và khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, khi tầng lớp trung lưu Trung Quốc ngày càng gia tăng, nhu cầu tiêu dùng cũng thay đổi theo hướng ưu tiên các sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm và có nguồn gốc rõ ràng. Điều này khiến cạnh tranh trên thị trường không còn là giá bán hay sản lượng. Các doanh nghiệp muốn mở rộng thị phần phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chuẩn về vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm.

Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với ngành rau quả. Trung Quốc không chỉ là thị trường tiêu thụ lớn nhất mà còn là đối tác có ảnh hưởng quan trọng tới chuỗi giá trị nông sản khu vực. Việc thị trường này liên tục nâng yêu cầu nhập khẩu đang tạo áp lực buộc doanh nghiệp Việt phải thay đổi mô hình sản xuất và kinh doanh.

Thực tế cho thấy rau quả đang là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất của ngành nông nghiệp, với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm. Nhiều mặt hàng như sầu riêng, thanh long, chuối, mít, bưởi hay dừa đã xây dựng được vị thế đáng kể tại thị trường Trung Quốc.

Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng trong thời gian tới không nằm ở việc mở rộng sản lượng bằng mọi giá mà ở khả năng nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị. Điều đó đòi hỏi sự chuyển dịch từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi, từ xuất khẩu theo nhu cầu ngắn hạn sang đáp ứng các tiêu chuẩn dài hạn của thị trường.

Chủ tịch Hiệp hội nhận định, doanh nghiệp trong nước đang đứng trước thời điểm phải chuyển mình mạnh mẽ. Nếu trước đây xuất khẩu chủ yếu dựa vào lợi thế sản lượng và vị trí địa lý thì hiện nay cần chuyển sang mô hình cạnh tranh bằng chất lượng, độ an toàn và tính minh bạch của sản phẩm. Đồng thời, hoạt động thương mại cũng cần dịch chuyển từ hình thức tiểu ngạch sang xuất khẩu chính ngạch, ổn định và bền vững hơn.

Ngược lại, nhu cầu tìm kiếm nguồn cung ổn định của các doanh nghiệp Trung Quốc cũng mở ra cơ hội hợp tác sâu hơn với các doanh nghiệp Việt Nam có năng lực sản xuất bài bản. Đây được xem là nền tảng để hình thành những chuỗi cung ứng nông sản quy mô lớn, đáp ứng đồng thời yêu cầu của thị trường Trung Quốc và các thị trường quốc tế khác.


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam