Từ đổi mới tư duy sản xuất, liên kết tiêu thụ đến phát triển kinh tế tuần hoàn, ngành hàng sen Đồng Tháp từng bước mở ra hướng nâng cao thu nhập cho nông dân.
Liên kết sản xuất đến thay đổi tư duy canh tác
Hơn 6 năm gắn bó với cây sen, ông Lê Văn Rạng, ở xã Trường Xuân, tỉnh Đồng Tháp, hiểu rằng muốn cây sen mang lại thu nhập ổn định thì người nông dân không thể sản xuất đơn lẻ theo kiểu mạnh ai nấy làm. Từ suy nghĩ đó, ông cùng năm hộ dân trong xóm thành lập tổ liên kết sản xuất sen trên diện tích hơn 30ha, thống nhất cùng mua vật tư nông nghiệp đầu vào, cùng bán sản phẩm và cùng chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc.

Điểm khác biệt của mô hình là tinh thần cộng đồng được đặt lên hàng đầu. Dù ruộng của mỗi hộ riêng biệt nhưng các thành viên thay phiên nhau theo dõi đồng ruộng, phân công công việc từ khâu kiểm tra sâu bệnh, chăm sóc đến hỗ trợ thu hoạch khi thương lái đến thu mua. Nhờ sản xuất đồng bộ, chất lượng sen được nâng lên, chi phí giảm và đầu ra cũng thuận lợi hơn.
Theo ông Lê Văn Rạng, hiệu quả kinh tế từ cây sen hiện ổn định hơn nhiều so với sản xuất lúa đơn thuần trước đây. Quan trọng hơn, cây sen còn mang lại niềm vui và sự gắn kết cho người dân địa phương.
"Mỗi mùa sen nở, rất nhiều người từ nơi khác tìm đến tham quan, chụp ảnh. Thấy quê mình ngày càng đông khách, bà con ai cũng phấn khởi và càng thêm yêu cây sen", ông Rạng chia sẻ.
Không chỉ thay đổi cách tổ chức sản xuất, nhiều nông dân Trường Xuân còn mạnh dạn chuyển sang canh tác theo hướng thân thiện môi trường. Lượng
phân hữu cơ được tăng cường sử dụng, chế phẩm vi sinh được đưa vào đồng ruộng nhằm cải tạo đất và hạn chế phụ thuộc vào phân bón hóa học.
Đặc biệt, những phụ phẩm trước đây thường bị bỏ đi như gương sen sau khi tách hạt nay được tận dụng để sản xuất phân hữu cơ. Người dân thu gom, xử lý bằng chế phẩm nấm Trichoderma rồi ủ thành nguồn phân giàu dinh dưỡng trả lại cho đất.
Cách ruộng sen của ông Lê Văn Rạng không xa, nhìn về cánh đồng sen chảy dài của gia đình ông Nguyễn Văn Trừ với diện tích 2,7ha, ngày nào cũng có 5-8 người thu hoạch gương sen.

Ông Trừ nói: Phụ phẩm từ sen sau thu hoạch không còn bị đốt bỏ như trước đây. Gương sen sau khi tách hạt được gom lại, phối trộn với chế phẩm vi sinh rồi ủ thành phân hữu cơ để bón trở lại cho ruộng.
Theo ông Trừ, nguồn hữu cơ từ chính phụ phẩm cây sen luôn phù hợp với điều kiện canh tác hơn nhiều loại phân bón khác. Việc bổ sung nấm đối kháng Trichoderma giúp quá trình phân hủy diễn ra nhanh hơn, tạo nguồn dinh dưỡng tự nhiên, đồng thời hạn chế mầm bệnh trong đất.
Không chỉ tiết kiệm chi phí đầu tư, cách làm này còn giúp giảm lượng phân hóa học sử dụng trên đồng ruộng, cải thiện chất lượng đất và tạo môi trường thuận lợi cho
cây sen phát triển lâu dài. Đây cũng là bước đi quan trọng để hình thành mô hình sản xuất tuần hoàn, tận dụng tối đa giá trị của toàn bộ cây sen thay vì chỉ khai thác hạt như trước.
Xây dựng chuỗi giá trị để Sen Đồng Tháp xuất ngoại
Những chuyển biến tích cực từ người dân cũng là cơ sở để chính quyền địa phương triển khai các mục tiêu phát triển ngành hàng sen trong giai đoạn mới.
Xã Trường Xuân đặt mục tiêu phát triển khoảng 200ha sen theo hướng bền vững, đồng thời tiếp tục vận động nông dân chuyển đổi diện tích đất sản xuất kém hiệu quả sang trồng sen hoặc kết hợp với các loại cây trồng phù hợp. Nhiều doanh nghiệp cũng đã chủ động tìm đến địa phương để bàn phương án liên kết bao tiêu sản phẩm đầu ra, tạo thêm niềm tin cho người sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Thảo, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Xuân, cho biết địa phương sẽ khuyến khích các mô hình canh tác kết hợp như sen - lúa, sen - cá nhằm hạn chế sâu bệnh, giảm chi phí sản xuất và tăng thêm nguồn thu nhập cho nông dân.
Đây là giải pháp vừa đa dạng hóa nguồn thu, vừa hạn chế sâu bệnh phát sinh nhờ luân canh, xen canh hợp lý. Trong mùa nước nổi, cá được thả nuôi trong ruộng sen không chỉ tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên mà còn góp phần làm sạch môi trường, giảm áp lực sử dụng thuốc BVTV. Sau mỗi vụ, đất được nghỉ và phục hồi, tạo điều kiện thuận lợi cho cây sen phát triển khỏe mạnh hơn. Từ đó người nông dân xem đây là hướng đi phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng như yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh hiện nay.

Cây sen từ lâu đã trở thành biểu tượng của vùng đất Đồng Tháp. Tuy nhiên, ngành hàng này cũng từng trải qua giai đoạn đầy khó khăn. Năm 2015, toàn tỉnh có khoảng 1.265 ha sen với sản lượng gần 1.000 tấn. Đến giai đoạn 2016-2019, do ảnh hưởng của sâu bệnh cùng việc thiếu liên kết tiêu thụ, diện tích giảm xuống chỉ còn khoảng 800-880 ha.
Từ năm 2021 đến nay, nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển ngành hàng cùng sự chủ động của người dân và doanh nghiệp, diện tích sen đã phục hồi lên khoảng 1.800 ha, tập trung tại các địa phương như Tháp Mười, Tam Nông, Cao Lãnh, Tân Hồng và Trường Xuân.
Theo ngành nông nghiệp Đồng Tháp, nhiều mô hình sản xuất mới như sen - lúa và sen - cá đang từng bước thay thế phương thức canh tác truyền thống. Lợi nhuận bình quân đạt khoảng 74 triệu đồng/ha mỗi năm. Ngoài ra, người dân còn có thể tăng thêm khoảng 50 triệu đồng/ha từ các hoạt động du lịch trải nghiệm gắn với cánh đồng sen.
Ông Lê Chí Thiện, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp cho biết: Để Sen Đồng Tháp phát triển bền vững thì không thể tiếp tục dựa vào sản xuất nhỏ lẻ. Ngành hàng sen cần chuyển sang phát triển dựa trên chất lượng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và giá trị văn hóa.

Theo đó, tỉnh sẽ ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nâng cao năng lực quản trị chất lượng và cơ cấu lại bộ giống sen thông qua hợp tác với các viện, trường nghiên cứu nhằm tuyển chọn các giống chuyên dụng phục vụ nhiều mục đích như lấy hạt, lấy củ, lấy lá hay sản xuất tơ sen.
Trước hết là đầu tư hạ tầng kỹ thuật, quản trị chất lượng và cơ cấu lại bộ giống sen thông qua hợp tác với các viện. Song song đó, Đồng Tháp định hướng phát triển chuỗi giá trị sen xanh theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Các doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư chế biến sâu, tận dụng tối đa phụ phẩm của cây sen để sản xuất mỹ phẩm, dược liệu, thực phẩm chức năng và vật liệu sinh học. Các hợp tác xã, hội quán cũng sẽ được nâng cao năng lực để tăng cường liên kết với doanh nghiệp, giảm phụ thuộc vào thương lái.

Nguồn: Lê Hoàng Vũ Báo Nông nghiệp và Môi trường