Khai mở tiềm năng cơ giới hóa thu gom rơm rạ diện rộng bằng bản đồ

An Giang phối hợp IRRI đánh giá tiềm năng cơ giới hóa thu gom rơm rạ trên diện rộng bằng bản đồ nhằm tạo kinh tế tuần hoàn và hình thành chuỗi giá trị mới.

Tài nguyên từ rơm rạ

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang vừa phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) tổ chức hội thảo tham vấn về phương pháp đánh giá tiềm năng cơ giới hóa thu gom rơm rạ diện rộng trên địa bàn tỉnh.
Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam có một phương pháp đánh giá tiềm năng thu gom rơm cơ giới hóa theo hướng đa chiều và trực quan bằng bản đồ. An Giang là địa phương được lựa chọn tham gia góp ý, phản biện thực tế để hoàn thiện mô hình.
Theo các chuyên gia, nghề sản xuất lúa gạo tại Việt Nam mỗi năm tạo ra khoảng 45-50 triệu tấn rơm rạ, trong đó riêng khu vực ĐBSCL chiếm khoảng 24 triệu tấn. Tuy nhiên, phần lớn nguồn sinh khối này vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Tình trạng đốt đồng sau thu hoạch còn diễn ra phổ biến (khoảng 54%), gây ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính.
Ngoài ra, tập quán cày vùi rơm rạ trong điều kiện ruộng ngập nước cũng làm gia tăng phát thải khí mê-tan, đồng thời có nguy cơ phát sinh ngộ độc hữu cơ, ảnh hưởng đến vụ sản xuất tiếp theo. Đây là bài toán mà nhiều địa phương trồng lúa đang tìm lời giải.

TS Katherine Nelson, chuyên gia khoa học của IRRI tại Việt Nam cho rằng, thay vì xem rơm rạ là phế phụ phẩm bỏ đi thì cần chuyển tư duy sang coi đây là nguồn tài nguyên có giá trị. Khi được thu gom cơ giới hóa và sử dụng hợp lý, rơm rạ sẽ trở thành đầu vào cho sản xuất nấm, phân hữu cơ, biochar, thức ăn chăn nuôi hoặc năng lượng sinh khối.

Cùng quan điểm, ông Lê Văn Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông An Giang chia sẻ, nếu tổ chức tốt khâu thu gom, vận chuyển và tiêu thụ, rơm rạ vừa giúp tăng thu nhập cho nông dân vừa góp phần giảm chi phí xử lý đồng ruộng, giảm phát thải và tạo thêm sinh kế ở nông thôn.
Bản đồ hóa khu vực thu gom
Nội dung trọng tâm của hội thảo là giới thiệu phương pháp đánh giá tiềm năng thu gom rơm bằng cơ giới hóa theo từng vụ lúa. Phương pháp này tích hợp nhiều yếu tố như lịch thời vụ, khả năng tiếp cận máy móc, điều kiện đất đai, thời tiết, hạ tầng giao thông và thực trạng hoạt động của các cơ sở thu gom rơm.

Từ các dữ liệu đầu vào, nhóm nghiên cứu xây dựng bản đồ phân vùng tiềm năng với nhiều cấp độ khác nhau, từ khu vực có khả năng thấp đến nơi đạt mức rất cao. Cách tiếp cận này giúp cơ quan quản lý nhận diện rõ nơi nào thuận lợi để phát triển dịch vụ thu gom rơm bằng máy móc, nơi nào cần đầu tư thêm hạ tầng hoặc điều chỉnh tổ chức sản xuất.

Tại hội thảo, đại diện các cơ quan chuyên môn, hợp tác xã và doanh nghiệp đã trực tiếp trao đổi về độ chính xác của bản đồ tại từng xã, từng vùng sản xuất. Nhiều ý kiến tập trung vào sự khác biệt giữa các mùa vụ, điều kiện giao thông nội đồng, khoảng cách vận chuyển và nhu cầu thị trường tiêu thụ rơm.

Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang nhấn mạnh, việc xác định đúng khu vực phù hợp cho cơ giới hóa thu gom rơm sẽ mang lại lợi ích kép - giúp giảm phát thải khí nhà kính và mở rộng chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, tăng thêm nguồn thu cho nông dân.


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam