Hà Nội chống ngập phía tây: [Bài 4] Chuyên gia đề xuất mô hình 'làng thích ứng với lũ'

'Làng thích ứng với lũ' không có nghĩa là chấp nhận sống trong nguy hiểm. Mục tiêu cuối cùng vẫn là giảm thiệt hại và bảo đảm an toàn cho người dân.

Những năm gần đây, các khu dân cư, làng mạc ven sông Bùi, sông Đáy thường xuyên đối mặt với ngập lụt do mưa lớn, lũ trên sông và dòng chảy từ thượng lưu.
Trao đổi với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường, GS.TS Phạm Quý Nhân, chuyên gia tài nguyên nước, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho rằng, chỉ xây thêm công trình để “chặn” hoặc “đẩy” nước ra khỏi khu dân cư là chưa đủ. Quản lý rủi ro lũ phải được nhìn trên toàn lưu vực: nơi nào cần bảo vệ, nơi nào phải dành cho nước và cộng đồng nào cần được tổ chức để sống an toàn với lũ.

Không thể bảo vệ mọi nơi theo cùng một cách

Theo Giáo sư, đâu là nguyên nhân khiến tình trạng ngập ngày càng phức tạp tại khu dân cư ven sông Bùi, sông Đáy? Với những khu dân cư đã hình thành lâu đời trong vùng có nguy cơ ngập, chúng ta nên tiếp tục “chống ngập” hay chuyển sang tư duy thích ứng?
Theo tôi, ngập lụt là kết quả của nhiều yếu tố cùng tác động, từ đặc điểm tự nhiên đến những thay đổi trong không gian lưu vực. Lưu vực sông Bùi chuyển tiếp từ miền núi, bán sơn địa xuống đồng bằng thấp. Khi mưa lớn, nước từ thượng lưu tập trung nhanh về vùng thấp, cộng với lũ trên sông, làm nguy cơ ngập tăng cao.
Nghiên cứu của TS. Trần Hữu Huân và các cộng sự tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội năm 2024 cũng cho thấy ngập tại lưu vực sông Bùi liên quan đến lũ trên sông, dòng chảy từ vùng núi và những thay đổi trong sử dụng đất. Khu vực này từng trải qua các trận lũ lớn vào các năm 2008, 2017 và 2018.
Đáng chú ý, yếu tố tự nhiên chỉ là một phần. Khi vùng trũng, ao hồ, ruộng, bãi sông hoặc hành lang thoát lũ bị thu hẹp, san lấp hay chia cắt, khả năng chứa và điều tiết nước tự nhiên giảm xuống. Nước không biến mất; nếu nơi vốn có chức năng chứa nước bị san lấp, lượng nước đó sẽ dồn sang nơi khác.
Bởi vậy, bài toán hiện nay không nên chỉ dừng ở việc xây thêm công trình. Trước hết phải xác định nước sẽ đi qua đâu, được giữ ở đâu, khu vực nào cần bảo vệ và nơi nào cần hạn chế phát triển.

Với những làng đã tồn tại lâu đời, có thể phân thành ba nhóm: nơi cần và có khả năng bảo vệ ở mức cao; nơi có thể chấp nhận ngập có kiểm soát và tổ chức theo mô hình “làng thích ứng với lũ”; những điểm rủi ro đặc biệt cao cần xem xét di dời có chọn lọc.
“Làng thích ứng” không có nghĩa là chấp nhận sống trong nguy hiểm. Nhà ở phải có không gian an toàn; điện, nước, vệ sinh được bảo vệ; đường cứu hộ, điểm tránh trú, phương án sơ tán và sinh kế cũng phải được tính đến. Mục tiêu cuối cùng vẫn là giảm thiệt hại và bảo đảm an toàn cho người dân.

Giữ không gian cho nước để giảm ngập

Một vấn đề quan trọng là làm thế nào để phân định vùng phải bảo vệ, vùng có thể chứa lũ và vùng cần hạn chế phát triển dân cư. Theo ông, quy hoạch không gian ven sông Bùi, sông Đáy cần được tổ chức như thế nào?

Tôi nghĩ rằng, quy hoạch phải bắt đầu từ việc xác định “không gian dành cho nước”, sau đó mới tính đến không gian phát triển. Bản đồ nguy cơ và bản đồ ngập lụt cần trở thành căn cứ quan trọng khi lập, điều chỉnh quy hoạch đô thị, dân cư và sử dụng đất.
Những khu dân cư hiện hữu cùng hạ tầng thiết yếu cần được bảo vệ. Trong khi đó, bãi sông, vùng trũng, ruộng, ao hồ và hành lang thoát lũ cần được giữ lại để nước có chỗ chứa, chỗ thoát. Những nơi ngập sâu, ngập thường xuyên hoặc có dòng chảy nguy hiểm cần hạn chế phát triển mới.
Vùng trũng và hành lang sông cần được coi là hạ tầng phòng, chống thiên tai tự nhiên, giúp duy trì khả năng điều tiết nước cho cả lưu vực.
Ngược lại, nếu san lấp một vùng có chức năng chứa lũ, nước sẽ dồn sang nơi khác và có thể làm tăng rủi ro cho khu vực lân cận. Vì thế, với các dự án giao thông, khu dân cư hoặc công trình san nền lớn trong vùng có nguy cơ ngập, cần đánh giá bằng mô hình thủy văn - thủy lực để xác định công trình làm thay đổi mực nước, độ sâu và thời gian ngập ra sao.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng mưa cực đoan, ông đánh giá thế nào về vai trò của dữ liệu, bản đồ ngập lụt, viễn thám và hệ thống cảnh báo sớm? Chúng ta có thể tiến tới quản lý ngập lụt theo từng khu dân cư hay không?
Công nghệ hiện nay cho phép tiếp cận diễn biến ngập chi tiết hơn. Dữ liệu viễn thám, đặc biệt là ảnh radar, có thể hỗ trợ lập bản đồ ngập trong điều kiện nhiều mây, mưa bão, qua đó giúp đánh giá nhanh phạm vi ảnh hưởng. Các nghiên cứu sử dụng ảnh Sentinel-1A cũng cho thấy khả năng theo dõi diện tích ngập và hỗ trợ đánh giá nhanh thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng.
Đáng chú ý, ngay tại lưu vực sông Bùi, dữ liệu từ cộng đồng cũng cho thấy giá trị nhất định. Người dân có thể cung cấp các quan trắc thực tế về tình trạng ngập, bổ sung cho dữ liệu từ các hệ thống quan trắc chuyên nghiệp. Như vậy, người dân không chỉ là đối tượng nhận cảnh báo mà hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích trong mạng lưới quan trắc cộng đồng.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu về mô hình học sâu mở ra triển vọng dự báo mực nước trước từ 24 đến 48 giờ tại hệ thống Tích - Bùi. Đây là hướng nghiên cứu có tiềm năng, nhưng cần tiếp tục kiểm định qua nhiều trận lũ và các điều kiện vận hành khác nhau trước khi ứng dụng rộng rãi trong nghiệp vụ.

Theo tôi, bước tiếp theo không chỉ là dự báo “mực nước sông sẽ lên bao nhiêu”, mà phải tiến tới cảnh báo dựa trên tác động.

Hệ thống cần trả lời được những câu hỏi thiết thực với người dân: Làng nào có khả năng ngập? Ngập sâu khoảng bao nhiêu? Khu vực nào có nguy cơ bị chia cắt? Tuyến đường nào có thể không đi lại được? Trường học, trạm y tế và khu dân cư nào cần ưu tiên bảo vệ? Khi nào cần sơ tán?

Muốn làm được điều đó, chúng ta cần tích hợp dữ liệu từ trạm quan trắc, radar mưa, ảnh vệ tinh, mô hình thủy văn - thủy lực, AI và dữ liệu từ cộng đồng. Khi các nguồn dữ liệu được kết nối, chúng ta có thể chuyển từ cách quản lý mang tính phản ứng sang chủ động hơn, lấy an toàn của người dân làm trung tâm.

Tổ chức lại không gian sống để thích ứng với lũ

Nếu phải đưa ra một giải pháp căn cơ, dài hạn cho các “làng ngập lụt” ven sông Bùi, sông Đáy, ông sẽ kiến nghị những việc gì cần làm trước?

Theo tôi, trước hết phải cập nhật đầy đủ bản đồ nguy cơ, rủi ro lũ và đưa những dữ liệu đó vào thực chất trong quy hoạch dân cư, sử dụng đất và đầu tư hạ tầng.

Cùng với đó, cần kiểm soát phát triển mới tại những khu vực ngập sâu, ngập thường xuyên; bảo vệ hành lang thoát lũ, vùng trũng, ao hồ và những không gian có khả năng chứa nước. Hệ thống hồ chứa, đê, cống, trạm bơm, lòng dẫn và giao thông cũng phải được tính toán đồng bộ trên toàn lưu vực, tránh tình trạng xử lý ngập ở nơi này lại làm tăng rủi ro ở nơi khác.

Mỗi cộng đồng trong vùng có nguy cơ ngập cần có phương án thích ứng, cảnh báo, sơ tán và bảo vệ tài sản phù hợp.

Công nghệ đang mở ra nhiều hướng mới, từ bản đồ ngập, viễn thám đến AI và dữ liệu cộng đồng. Song công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với quy hoạch và tổ chức cộng đồng.

Vì thế, giải pháp lâu dài không phải là cố ngăn nước bằng mọi giá, mà là quản lý rủi ro chủ động: nơi cần bảo vệ thì bảo vệ, nơi cần dành cho nước thì giữ cho nước, còn cộng đồng sống trong vùng ngập phải được tổ chức để thích ứng an toàn hơn.

Khi nhìn nhận “làng ngập lụt” theo cách đó, bài toán không còn chỉ là chống một trận lũ, mà là tổ chức lại không gian sống, hạ tầng và sinh kế để người dân an toàn hơn.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn: Nguyễn Thuỷ Báo Nông nghiệp và Môi trường
Chi tiết bài báo xem tại đây


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam