Thay đổi tư duy sản xuất, chủ động chế biến, xây dựng vùng nguyên liệu và tìm đầu ra đang giúp nhiều HTX nâng giá trị nông sản, tạo việc làm, tăng thu nhập.
Từ sản xuất sang tư duy thị trường
Nếu những khó khăn về nhân lực, vốn, đất đai, hạ tầng và đầu ra là những “nút thắt” khiến không ít HTX hoạt động cầm chừng, thì ở chiều ngược lại, một số HTX đang cho thấy cách tiếp cận khác. Họ thay đổi cách nghĩ, tổ chức lại sản xuất dựa trên nhu cầu thị trường, lấy chế biến và liên kết làm hướng đi để tạo thêm giá trị. Sự chuyển biến trong tư duy của người đứng đầu đã giúp HTX từng bước hình thành vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường và tạo lợi ích thiết thực hơn cho thành viên.

HTX Sản xuất Nông Lâm nghiệp và Thương mại Dịch vụ Sơn Bua (xã Sơn Tây Thượng,
Quảng Ngãi) là một trong những mô hình đang đi theo hướng này. Thành lập từ cuối năm 2020 nhưng đến năm 2024 mới thực sự hoạt động do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Ngay sau đó, HTX bắt đầu bằng việc xây dựng nhà xưởng, phát triển vùng nguyên liệu và tổ chức liên kết với người dân.
Hiện HTX có hơn 100 thành viên tham gia liên kết trong và ngoài xã cùng 10 thành viên chính thức. Thay vì để nông dân tự sản xuất rồi tự tìm đầu ra, HTX đứng ra thu mua, bao tiêu cho bà con và chế biến nông sản thành sản phẩm hoàn chỉnh đưa ra thị trường.
Điểm thay đổi rõ nhất nằm ở cách HTX nhìn vào những sản vật vốn rất quen thuộc với người dân địa phương. Cây chuối từng được trồng nhiều nhưng khó tiêu thụ, nay được nghiên cứu chế biến thành rượu chuối, mật chuối, chuối sấy dẻo. Nguồn ổi rừng tự nhiên trước đây bị bỏ phí được khai thác làm trà búp ổi.
HTX tổ chức thu mua lá ổi từ người dân, qua đó vừa tạo thêm thu nhập cho bà con vừa giữ được vùng nguyên liệu ổn định.
Cùng cách nghĩ ấy, HTX tiếp tục phát triển các sản phẩm từ măng, cau và những nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Theo bà Lê Thị Ánh, Giám đốc HTX, muốn phát triển bền vững phải bắt đầu từ chất lượng sản phẩm. Công nghệ, quy trình chế biến, đóng gói và bảo đảm an toàn thực phẩm là những yếu tố quyết định khả năng đưa sản phẩm đến người tiêu dùng. Cùng với đó, vùng nguyên liệu phải đủ ổn định để bảo đảm sản lượng khi thị trường mở rộng.

Đây cũng là lý do HTX không mở rộng sản xuất theo kiểu chạy theo số lượng mà tính toán sản lượng dựa trên nhu cầu thị trường. Sau khoảng 2 năm đưa sản phẩm ra thị trường, lượng khách hàng quay lại ngày càng tăng, tạo cơ sở để HTX mở rộng quy mô và vùng nguyên liệu.
Vùng ổi rừng hiện được mở rộng lên 10 ha, trong khi hơn 300 ha măng tại địa phương cũng mở ra dư địa để HTX phát triển thêm các sản phẩm chế biến. Từ những nguồn nguyên liệu này, HTX hiện có 7 sản phẩm đạt OCOP 3 sao cùng nhiều sản phẩm khác được đưa vào hệ thống đại lý, siêu thị và phân phối đến nhiều tỉnh, thành trên cả nước với doanh thu mỗi năm của HTX đạt trên 2 tỷ đồng.
Cũng chọn chế biến để nâng giá trị nông sản, HTX Sản xuất và Kinh doanh Nấm Đức Nhuận (xã Long Phụng, tỉnh Quảng Ngãi) lại có cách đi phù hợp với đặc thù sản phẩm nấm. HTX tổ chức liên kết, thu gom sản phẩm từ các nhóm hộ sản xuất sau đó đầu tư chế biến để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn.
Ông Lê Giang Phong, Giám đốc HTX cho rằng, điểm cốt lõi của HTX kiểu mới là phải gắn sản xuất với thị trường, phải xác định được “làm cái gì, bán cho ai”. Từ nấm tươi, HTX phát triển thêm bột nêm nấm, khô sợi nấm, trà linh chi và nhiều sản phẩm khác. Khi sản phẩm thô được chuyển sang sản phẩm chế biến, giá trị tăng lên, thời gian bảo quản dài hơn và HTX cũng giảm được rủi ro nếu
thị trường nấm tươi gặp biến động.

Sự thay đổi ấy được thể hiện rõ trong giai đoạn dịch Covid-19. Khi việc vận chuyển, tiêu thụ nông sản tươi gặp nhiều trở ngại, HTX chủ động đưa nấm sang chế biến. Nấm bào ngư được sấy làm khô sợi, bột nêm; nấm linh chi được chế biến thành trà. Nhờ có thêm phương án chế biến, HTX vẫn duy trì sản xuất, tiếp tục thu mua sản phẩm cho người dân thay vì để nấm tươi hư hỏng khi không thể đưa ra thị trường.
Từ một cơ sở sản xuất nhỏ, đến nay HTX Nấm Đức Nhuận có 10 sản phẩm đạt OCOP, trong đó một sản phẩm Nấm Linh Chi đạt 4 sao, 9 sản phẩm đạt 3 sao được thị trường nhiều tỉnh thành trong nước biết đến, sử dụng. Cùng với thay đổi cách sản xuất, HTX cũng thay đổi cách tiếp cận thị trường. Thay vì chỉ dựa vào chợ, đại lý hay cửa hàng, HTX tận dụng
Facebook, TikTok, Zalo để quảng bá sản phẩm, xây dựng hình ảnh và tiếp cận người tiêu dùng. Cách làm này giúp HTX tiết giảm chi phí so với việc phụ thuộc hoàn toàn vào các sàn thương mại điện tử có mức phí cao.
Nhìn vào 2 mô hình có thể thấy, thay đổi tư duy không phải là câu chuyện quá xa vời. Đó là khi HTX không còn chỉ nghĩ đến việc sản xuất được bao nhiêu, mà bắt đầu từ câu hỏi thị trường cần gì; không chỉ bán sản phẩm tươi, thô mà tìm cách chế biến để nâng giá trị; không chỉ làm cho mình mà tổ chức nông dân cùng tham gia vào chuỗi.
Thay đổi từ năng lực quản trị
Ông Nguyễn Lâm Cảnh, Giám đốc Liên minh HTX tỉnh Quảng Ngãi nhìn nhận, những mô hình có khả năng phát triển thường có điểm chung là xác định được sản phẩm chủ lực, có người đứng đầu tâm huyết, phương án
sản xuất kinh doanh rõ ràng và chủ động tìm kiếm thị trường. Những HTX vượt qua khó khăn thường không hoàn toàn trông chờ vào chính sách mà chủ động huy động nguồn lực, đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm đối tác.
Từ thực tiễn đó, ông Nguyễn Quang Hòa, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi cho rằng, hướng phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới cần được đặt trong một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, trong đó HTX không chỉ làm dịch vụ đầu vào mà phải trở thành hạt nhân tổ chức sản xuất, gắn người dân với chế biến và thị trường.

Theo ông Hòa, để mang đến thành công cho HTX, trước hết cần chuyển đổi thực chất năng lực quản trị của HTX. Người đứng đầu phải có tư duy thị trường, biết xây dựng phương án sản xuất kinh doanh và tổ chức nguồn lực phù hợp. Khi năng lực quản trị được nâng lên, HTX mới có thể chủ động hơn trong xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết với doanh nghiệp và tổ chức sản xuất theo yêu cầu của thị trường.
“Một yêu cầu khác là phải tạo được hạ tầng đủ sức nâng HTX từ sản xuất
nguyên liệu lên chế biến và bảo quản nhằm giảm phụ thuộc vào thương lái và hạn chế rủi ro khi thị trường biến động. Cùng với đó là yêu cầu chuẩn hóa chất lượng và xây dựng vùng nguyên liệu. HTX phải hướng dẫn thành viên tổ chức vùng sản xuất tập trung, kiểm soát quy trình, truy xuất nguồn gốc và từng bước áp dụng các tiêu chuẩn phù hợp. OCOP cũng cần được nhìn nhận như một công cụ để chuẩn hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, thay vì chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện hồ sơ để được công nhận sản phẩm”, ông Hòa chia sẻ.
Quan trọng hơn, HTX cần xác lập mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể đóng vai trò định hướng thị trường, còn HTX tập hợp các hộ dân, tổ chức sản xuất, quản lý kỹ thuật và thực hiện các hợp đồng bao tiêu. Khi 2 bên cùng chia sẻ rủi ro và lợi ích, người dân có đầu ra ổn định, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, còn HTX có điều kiện nâng cao vai trò trong chuỗi giá trị.
Thực tế cũng cho thấy, những HTX hoạt động hiệu quả không chỉ dừng lại ở một sản phẩm hay một dịch vụ mà từng bước hình thành mô hình đa chức năng, gắn sản xuất với chế biến,
OCOP và vùng nguyên liệu. Đây là hướng đi giúp HTX tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một nguồn nguyên liệu, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập cho thành viên.

Nguồn: Lê Khánh Báo Nông nghiệp và Môi trường