Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

Sáng ngày 15/01/2026, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 tại Hà Nội và trực tuyến đến các điểm cầu tại các tỉnh, thành phố, các đơn vị có liên quan.
Hội nghị hân hạnh được đón tiếp Bộ trưởng Trần Đức Thắng, Thứ trưởng Võ Văn Hưng đến tham dự và chỉ đạo, Hội nghị cũng có mặt của đại diện Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ, các đơn vị ngoài Bộ có liên quan, các Tổ chức quốc tế và Việt Nam hiện đang liên kết thực hiện nhiệm vụ lĩnh vực Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn. Tham dự Hội nghị trực tuyến có đại diện Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường; Chi cục Phát triển nông thôn/Phòng Phát triển nông thôn của 34 tỉnh thành.
Tại Hội nghị Cục trưởng Lê Đức Thịnh đã báo cáo: Năm 2025 là năm đầu tiên triển khai mô hình các Bộ, ngành hợp nhất và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp theo chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước; đồng thời là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi vừa thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, vừa phải bảo đảm tính liên tục, thông suốt của hoạt động quản lý nhà nước trong bối cảnh phạm vi quản lý mở rộng, nhiệm vụ gia tăng, nhiều vấn đề mới, khó, nhạy cảm phát sinh. Trong bối cảnh đó, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn đã chủ động đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành, tập trung vào vai trò tham mưu hoàn thiện thể chế, điều phối liên ngành và tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn chính sách cho địa phương, bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực được giao không bị gián đoạn.
Năm 2025, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT được giao chủ trì tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường 05 nhiệm vụ, bao gồm: 02 Nghị định của Chính phủ; 01 Quyết định sửa đổi và 01 Đề án của Thủ tướng Chính phủ; 01 Thông tư, 01 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Đến hết năm 2025, cả nước có 101 Liên hiệp hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, 23.000 HTX nông nghiệp. Trong đó có 65% HTX nông nghiệp đạt loại khá, tốt; có 36.000 THT nông nghiệp.
Đến hết năm 2025 cả nước có 263 nghề truyền thống; 1.975 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận (trong đó có 1.315 làng nghề và 660 làng truyền thống). Cả nước đã có 247 làng nghề có sản phẩm đăng ký thương hiệu (chiếm 12,51%), 360 làng có sản phẩm OCOP đạt sao (chiếm 18,22%), 145 làng nghề có sản phẩm xuất khẩu (chiếm 7,34%), 185 làng nghề (chiếm 9,37%) đã gắn với phát triển du lịch. Tổng số các cơ sở tham gia sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn là trên 586 nghìn cơ sở (bao gồm  gần 14 nghìn doanh nghiệp; hơn 6 nghìn hợp tác xã; hơn 3 nghìn tổ hợp tác và trên 563 nghìn hộ gia đình). Tổng số lao động tham gia sản xuất kinh doanh lĩnh vực ngành nghề nông thôn trên 2,1 triệu lao động.
Hiện nay, các địa phương chủ yếu tập trung thực hiện đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trong 03 Chương trình MTQG. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tính đến quý III/2025 là 29,1%, tăng 1,0% so cùng kỳ năm trước, điều này cho thấy chất lượng nguồn lao động đang dần được nâng cao. 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đều có hoạt động hợp tác với doanh nghiệp qua ký kết hợp đồng, hợp tác, biên bản ghi nhớ. Tỷ lệ lao động có việc làm hoặc cải thiện thu nhập sau đào tạo đạt trên 80%.
Giai đoạn 2021-2025, các tỉnh đã lập, phê duyệt và triển khai thực hiện 292 dự án bố trí dân cư, trong đó: Hoàn thành 101 dự án, đang triển khai thực hiện dở dang 154 dự án, 37 dự án mở mới thực hiện trong năm 2025. Tổng số hộ đã bố trí ổn định là 42.441 hộ, đạt 66,02% so với mục tiêu Chương trình bố trí dân cư đề ra của giai đoạn 2021-2025 là 64.283 hộ, trong đó năm 2025 bố trí được hơn 9.000 hộ.
Giai đoạn 2021-2025 đã Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp trên 6.174 dự án cho khoảng 99.594 hộ nghèo hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo, về cơ bản đã hoàn thành mục tiêu về số dự án hỗ trợ phát triển sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp 6.174/1.000 dự án; các hộ tham gia dự án được tập huấn 100% số hộ về kỹ thuật trồng, chăn nuôi, chăm sóc, bảo quản, sử dụng công cụ, dụng cụ, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với khoảng hơn 1.940 lớp tập huấn cho khoảng 58.243 người được tập huấn, tư vấn quản lý tiêu thụ nông sản, thí điểm, nhân rộng các giải pháp sáng kiến phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị hiệu quả. Thu nhập của hộ tham gia dự án tăng trung bình từ 15-50% so với trước khi nhận hỗ trợ, tùy theo loại hình sinh kế và mức độ liên kết đầu ra.
Cơ giới hóa nông nghiệp được quan tâm đầu tư phát triển, mức độ cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng, nhiều loại máy móc, thiết bị được sử dụng trong nông nghiệp. Nhiều khâu sản xuất có mức độ cơ giới hóa cao, nhất là với sản xuất lúa vùng ĐBSCL, Đồng bằng Sông Hồng khâu làm đất đạt gần 100%, thu hoạch gần 90%.
Năm 2025, diện tích sản xuất muối đạt 11.300 ha, trong đó diện tích muối thủ công hơn 7.400 ha, diện tích muối sản xuất theo quy mô công nghiệp gần 3.900 ha. Sản lượng muối đạt hơn 900.000 tấn, trong đó muối thủ công khoảng 450.000 tấn, muối sản xuất theo quy mô công nghiệp khoảng 300.000 tấn. Giá muối bình quân cả nước giao động từ 900đ đến 1.200đ/ kg. Lượng tồn muối năm 2024 chuyển 2025 đạt 250.000 tấn.
Kết luận Hội nghị Bộ trưởng Trần Đức Thắng ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương những nỗ lực, cố gắng của tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, đồng thời cũng yêu cầu Cục, tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất, tiếp tục coi hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cần tập trung rà soát, đánh giá toàn diện hệ thống chính sách, pháp luật thuộc lĩnh vực được giao, kịp thời phát hiện những điểm chồng chéo, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn tổ chức sản xuất và yêu cầu phát triển mới.
Thứ hai, lấy tổ chức lại sản xuất nông nghiệp làm trục xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động tham mưu và chỉ đạo. Hợp tác xã và các hình thức kinh tế hợp tác phải thực sự trở thành trung tâm tổ chức sản xuất, là đầu mối liên kết hộ nông dân với doanh nghiệp, thị trường, khoa học – công nghệ và các dịch vụ đầu vào, đầu ra. Việc phát triển vùng nguyên liệu tập trung, liên kết chuỗi giá trị, cơ giới hóa và chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, gắn chặt với nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của doanh nghiệp. Tránh tình trạng triển khai rời rạc theo từng dự án, từng địa phương; thay vào đó, cần tiếp cận theo chuỗi giá trị và không gian sản xuất, bảo đảm hiệu quả kinh tế và tính bền vững.
Thứ ba, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng đa giá trị, bền vững và bao trùm. Cục cần tiếp tục tham mưu các chính sách thúc đẩy gắn kết nông nghiệp với ngành nghề nông thôn, làng nghề truyền thống, chương trình OCOP, du lịch nông thôn và các dịch vụ nông thôn mới, qua đó đa dạng hóa sinh kế, tạo việc làm tại chỗ và nâng cao thu nhập cho người dân. Phát triển kinh tế nông thôn không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng, mà còn phải gắn với bảo tồn giá trị văn hóa, giữ gìn bản sắc cộng đồng, bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn đáng sống.
Thứ tư, tập trung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn. Cần coi đây là khâu then chốt, mang tính quyết định để các chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống. Trọng tâm là hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, nông dân số, có kiến thức kỹ thuật, kỹ năng quản trị, khả năng tiếp cận thị trường và làm chủ công nghệ; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ quản trị hợp tác xã hiện đại, đáp ứng yêu cầu tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Công tác đào tạo cần gắn chặt với nhu cầu thực tiễn, với hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường lao động, tránh hình thức, chạy theo số lượng.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước trong giai đoạn mới phải chuyển mạnh sang điều hành dựa trên dữ liệu. Cục cần tập trung xây dựng, chuẩn hóa và kết nối các cơ sở dữ liệu về kinh tế hợp tác, phát triển nông thôn, vùng nguyên liệu, ngành nghề nông thôn…, bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, kịp thời và có khả năng chia sẻ, liên thông giữa Trung ương và địa phương.
Cuối cùng, cần tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, lề lối và tác phong làm việc; gắn chặt nhiệm vụ của Cục với việc triển khai các nghị quyết lớn của Trung ương và chương trình hành động của Bộ. Cục cần quán triệt sâu sắc yêu cầu đổi mới tư duy từ quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, từ làm việc theo thói quen sang làm việc theo mục tiêu, kết quả và hiệu quả cuối cùng. Lề lối, tác phong làm việc phải theo hướng chủ động, kỷ cương, chuyên nghiệp, đề cao trách nhiệm cá nhân, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm; khắc phục triệt để tình trạng ôm đồm, dàn trải, thiếu trọng tâm trong tham mưu và tổ chức thực hiện.
Văn phòng


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam