Cấp mã số vùng trồng theo định danh thửa đất

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, quy trình cấp mã số vùng trồng sẽ được triển khai theo hướng đơn giản hóa thủ tục và thực hiện trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Tại Hội nghị với các Hiệp hội ngành hàng về thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng cuối năm 2026 diễn ra ngày 30/7, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT) cho biết, nhiều vướng mắc trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu rau quả đã được hiệp hội, doanh nghiệp và người dân nhiều lần phản ánh tới Bộ và Chính phủ trong suốt hai năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn không ít "điểm nghẽn" cần được tiếp tục tháo gỡ.

Đơn giản hóa thủ tục, tăng đầu tư chế biến

Theo ông Bình, một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay là việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Hồ sơ, thủ tục còn phức tạp, trong khi nhiều nông dân chưa nắm rõ quy trình, dẫn đến mất thời gian và ảnh hưởng đến niềm tin đối với cơ quan chuyên môn.
Thực tế sản xuất trong nước cũng còn khoảng cách so với các yêu cầu tại nghị định thư đã ký với thị trường nhập khẩu. Chẳng hạn, sầu riêng xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu về vùng trồng chuyên canh, trong khi tại Tây Nguyên, nhiều hộ vẫn trồng xen sầu riêng với cây công nghiệp và các loại cây nông nghiệp khác.
Theo VINAFRUIT, hình thức sản xuất này có thể khiến chất lượng sản phẩm trong cùng một mã số vùng trồng thiếu đồng đều. Đáng lo ngại hơn, sai phạm của một hộ có thể ảnh hưởng đến toàn bộ vùng trồng và các hộ sản xuất khác sử dụng chung mã số.

"Liên kết giữa chủ sở hữu mã số vùng trồng và doanh nghiệp cũng chưa bền vững. Khi thị trường biến động, mâu thuẫn, tranh chấp dễ phát sinh nhưng chưa được giải quyết triệt để, trong khi chế tài chưa đủ sức răn đe. Tình trạng mua bán, giả mạo mã số vùng trồng vẫn diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ gây mất thị trường xuất khẩu", ông Bình nói và phân tích thêm, công tác quản lý vật tư nông nghiệp, hóa chất bảo quản và chế biến còn lỏng lẻo. Nhiều lô hàng bị phát hiện có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng hoặc nhiễm hóa chất cấm.
“Đây là nguyên nhân khiến hàng hóa bị trả về hoặc tiêu hủy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế”, ông Bình nhấn mạnh.
Hệ thống kiểm nghiệm, kiểm dịch thực vật phục vụ xuất khẩu cũng đang quá tải. Thời gian lấy mẫu, trả kết quả kéo dài; việc tiếp nhận, phản hồi kiến nghị của người sản xuất và doanh nghiệp còn chậm, thiếu công khai, minh bạch.
Theo Chủ tịch VINAFRUIT, những tồn tại này đã nhiều lần được phân tích, rút kinh nghiệm nhưng chưa có chuyển biến rõ rệt. Trong khi đó, chi phí logistics vẫn ở mức cao, còn các vướng mắc về thuế giá trị gia tăng đầu vào và chứng từ mua bán giữa doanh nghiệp với hộ sản xuất chưa được tháo gỡ.
VINAFRUIT đánh giá cao việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất sửa đổi Nghị định số 18, Nghị định số 38, đồng thời trình Chính phủ ban hành nghị quyết tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu rau quả.
"Đây là tín hiệu tích cực, có thể kịp thời hỗ trợ vụ thu hoạch sầu riêng cuối năm 2026 tại Tây Nguyên và tạo động lực hoàn thành mục tiêu xuất khẩu của ngành", ông Bình nhấn mạnh.
Tuy nhiên, hiệp hội băn khoăn về quy định thời gian cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu là 10 ngày. Do đó, VINAFRUIT kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động đàm phán với các thị trường nhập khẩu để thống nhất quy trình và thời gian xử lý phù hợp với thực tế.
Hiệp hội cũng đề xuất đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; số hóa dữ liệu và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Các quy định về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, chuyển đổi số và sản xuất giảm phát thải cần được phổ biến thường xuyên đến từng hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Cùng với đó, cơ quan quản lý cần có giải pháp xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất nông nghiệp từ gốc; kiểm soát chặt việc nhập khẩu, lưu hành và sử dụng vật tư nông nghiệp; mở rộng diện tích vùng trồng được cấp mã số và đàm phán mở cửa thị trường cho các sản phẩm tiềm năng như dứa, na, bơ và mận.
Đối với thị trường Trung Quốc, VINAFRUIT đề nghị sớm đàm phán để phía bạn công nhận kết quả kiểm nghiệm chất lượng, kiểm dịch của Việt Nam; liên thông dữ liệu với cơ quan hải quan nhằm rút ngắn thời gian thông quan.
Nhà nước cũng cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến rau quả, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu tươi, xuất khẩu thô và nâng cao giá trị gia tăng. Hệ thống logistics, kiểm nghiệm tại vùng nguyên liệu cần được đầu tư đồng bộ để giảm chi phí và tháo gỡ ách tắc trong chuỗi xuất khẩu.

Tiến tới mốc 10 tỷ USD xuất khẩu rau quả

Làm rõ các kiến nghị của VINAFRUIT, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu rau quả đạt gần 3,6 tỷ USD, tăng khoảng 17% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng cao nhất trong các ngành hàng nông sản.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, rau quả là một trong những ngành hàng có tiềm năng lớn nhất và được kỳ vọng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh trong 6 tháng cuối năm.
Chính phủ dự kiến sớm ban hành nghị quyết về đổi mới phương thức cấp mã số vùng trồng. Thời gian tới, quy trình mới sẽ được triển khai theo hướng đơn giản hóa thủ tục, cấp mã số dựa trên định danh thửa đất và thực hiện hồ sơ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Đối với vùng trồng không phục vụ xuất khẩu, nếu hồ sơ hợp lệ, người dân có thể được cấp mã số sau khoảng 3 ngày kể từ khi kê khai.
Riêng vùng trồng phục vụ xuất khẩu, thời gian dự kiến khoảng 10 ngày do phải thực hiện khâu tiền kiểm theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Chẳng hạn, Trung Quốc yêu cầu danh sách mã số vùng trồng do Việt Nam gửi sang phải có xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước về quy trình sản xuất. Vì vậy, chính quyền địa phương phải kiểm tra, xác nhận điều kiện sản xuất trước khi cấp mã số.
“Việc cấp mã số vùng trồng trong thời gian tới sẽ rất đơn giản. Tuy nhiên, để phục vụ xuất khẩu, người dân vẫn phải liên kết hình thành các vùng sản xuất đủ lớn, áp dụng thống nhất quy trình và công nghệ”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nói và cho rằng, khi vùng trồng được tổ chức bài bản, việc kiểm soát an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và chất lượng sản phẩm sẽ hiệu quả hơn.
Dự kiến trong tháng 9, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục sửa đổi các nghị định liên quan. Trong thời gian chờ sửa đổi, nghị quyết của Chính phủ sẽ tạo cơ sở để đổi mới toàn diện phương thức cấp và quản lý mã số vùng trồng.
Đối với cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các chỉ tiêu an toàn khác, Thứ trưởng cho biết, Bộ đã chỉ đạo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật triển khai các giải pháp kiểm soát theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. Đồng thời, Bộ cũng sẽ tiếp tục đàm phán với các thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản... để tăng cường phối hợp kiểm soát vùng trồng, nhất là các vùng sản xuất sầu riêng phục vụ xuất khẩu.
Quy trình kiểm tra, trả kết quả sẽ được cải tiến theo hướng ứng dụng công nghệ quản lý, đổi mới phương thức thực hiện để rút ngắn thời gian xử lý, tạo thuận lợi cho thông quan. Giải pháp này được xác định hiệu quả hơn so với việc chỉ tăng thêm nhân lực.
Thời gian tới, Bộ sẽ ban hành sổ tay hướng dẫn kiểm soát cadimi và các chỉ tiêu an toàn, giúp người dân sử dụng phân bón, vật tư nông nghiệp đúng quy trình. Các vùng trồng cũng sẽ được hướng dẫn cụ thể hơn về yêu cầu kỹ thuật và an toàn thực phẩm.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp kỳ vọng, ngành rau quả sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 8,5-9 tỷ USD trong năm 2026, tiến tới mốc 10 tỷ USD, qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu xuất khẩu 74 tỷ USD của toàn ngành nông nghiệp.
Nguồn: Nguyễn Thuỷ Báo Nông nghiệp và Môi trường
Chi tiết bài báo xem tại đây


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam