Cần Thơ hướng đến số hóa vùng trồng lúa chất lượng cao, phát thải thấp

Từ các mô hình thí điểm, TP Cần Thơ đang xây dựng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, phát thải thấp quy mô lớn, gắn với dữ liệu số và mã số vùng trồng.

Sáng 4/8, tại HTX Kiến Thành (xã Vị Thanh 1, TP Cần Thơ), Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam (Vietrisa) tổ chức hội thảo “Nhân rộng vùng nguyên liệu sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp”.
Hội thảo là dịp để đánh giá kết quả sau hơn hai năm triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Đồng thời thảo luận các giải pháp để chuyển từ các mô hình thí điểm sang hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn.

Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP Cần Thơ, đến nay Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã được triển khai tại 65 xã, phường, thu hút 171 THT/HTX tham gia, với quy mô trên 170.800 ha. Trong đó, diện tích được triển khai trong năm 2026 khoảng 76.000 ha.
Trong vụ hè thu 2026, Chi cục đã phối hợp với IRRI và Vietrisa lồng ghép mô hình sản xuất lúa áp dụng bón phân đúng và quản lý dinh dưỡng chính xác vào quy trình của Đề án tại HTX Kiến Thành.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Kiến Thành cho biết, mô hình bước đầu đã ghi nhận kết quả tích cực. Lượng giống gieo sạ giảm 42%, tương đương tiết kiệm khoảng 59kg/ha, giúp giảm chi phí giống khoảng 760.000 đồng/ha. Đồng thời, nông dân giảm được 2 lần phun thuốc bảo vệ thực vật trong suốt vụ sản xuất.

Đáng chú ý, dù cắt giảm đáng kể chi phí đầu vào, nhưng năng suất ước đạt 7,87 tấn/ha. Ông Dũng tính toán, với tổng chi phí sản xuất giảm khoảng 3,5 triệu đồng/ha, nông dân tăng thêm lợi nhuận khoảng 7,2 triệu đồng/ha so với mô hình đối chứng.

Theo ông Dũng, các thực hành canh tác theo Đề án không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt, tạo cơ sở thực tiễn để nhân rộng thành vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia IRRI, để chuyển từ các mô hình thí điểm ra quy mô lớn, điều kiện tiên quyết là tổ chức lại sản xuất thông qua HTX. Đây sẽ là hạt nhân giúp vùng nguyên liệu có chất lượng đồng đều, tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa, chuyển đổi số và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Vietrisa cho rằng, việc mở rộng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, phát thải thấp cần song hành với giải quyết thách thức về kết nối thị trường, nhằm tạo ra giá trị bền vững. Điều này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nông dân, HTX, doanh nghiệp cung ứng vật tư, doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu cùng các cơ quan quản lý và tổ chức nghiên cứu. Sự liên kết này không chỉ giúp kết nối vùng nguyên liệu với thị trường mà còn tạo nền tảng xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị hạt gạo và mở rộng sản xuất theo các tiêu chuẩn của Đề án.

Theo bà Trần Thị Kim Thúy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP Cần Thơ, khi vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao được hình thành, thành phố sẽ đẩy mạnh quản lý bằng dữ liệu số và mã số vùng trồng, nhằm bảo đảm tính minh bạch, truy xuất nguồn gốc và duy trì chất lượng.
Bà Thúy cho biết, việc cấp mã số vùng trồng sẽ góp phần chuẩn hóa quy trình sản xuất, tăng cường quản lý chất lượng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Thời gian tới, Chi cục sẽ tiếp tục phối hợp với các tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương để xây dựng mã số vùng trồng lúa. Để việc triển khai thuận lợi, nông dân cần cập nhật nhật ký và dữ liệu sản xuất trên ứng dụng ViRiCert để HTX tổng hợp, kiểm tra. Ngành nông nghiệp cũng định hướng số hóa toàn bộ nhật ký sản xuất, kết nối dữ liệu với doanh nghiệp và quản lý mã số vùng trồng trên nền tảng số.
Nguồn: Kim Anh Báo Nông nghiệp và Môi trường
Chi tiết bài báo xem tại đây


© Bản quyền thuộc về Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đ/c: Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, TP. Hà Nội.

Chịu trách nhiệm: Ông Lê Đức Thịnh - Cục Trưởng

Tel: 024.38438794 / Fax: 024.38438791 / Email: cucktht@gmail.com

Technology Supported by ECPVietnam