Tác giả: Ông Lê Đức Thịnh – Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn
Hiện nay, khi hợp tác xã đã trở thành một thể chế quan trọng và phổ biến, có nhiều đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn nói chung và cơ cấu lại ngành nông nghiệp nói riêng, thì rất ít người biết rằng cách đây hơn 30 năm, ngay từ những ngày đầu thực hiện Khoán 10 đã có 01 chương trình nghiên cứu bài bản, với mục tiêu nhanh chóng tạo ra thể chế hợp tác xã kiểu mới, với những nguyên tắc, tổ chức của mô hình hợp tác xã trên toàn cầu, làm “bà đỡ” cho kinh tế hộ nông dân được xác lập sau Khoán 10. Tuy nhiên, quá trình “nhập khẩu” thể chế này không thật sự thành công tại thời điểm những năm 1990 – 2000. Bài viết này sẽ phân tích các nguyên nhân cản trở sự phát triển HTX kiểu mới trong giai đoạn đầu, so sánh với giai đoạn gần đây để rút ra bài học chính sách có giá trị thực tiễn. Đồng thời, làm rõ vai trò tham mưu chiến lược của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn trong việc tạo dựng hành lang pháp lý, hệ sinh thái hỗ trợ và nâng cao vị thế HTX nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân trong hơn một thập kỷ qua.
MỞ ĐẦU
Ba thập kỷ vừa qua là hành trình tìm tòi, thử nghiệm và điều chỉnh không ngừng nghỉ của mô hình hợp tác xã (HTX) kiểu mới tại Việt Nam. Ngay từ đầu những năm 1990, trong bối cảnh đất nước vừa thực hiện chia lại đất sản xuất cho nông dân theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoán10) và Luật Đất đai 1993, mô hình HTX cũ, vốn từng đóng vai trò chủ đạo trong tổ chức sản xuất thời kỳ tập thể hóa, dần mất đi chức năng tổ chức sản xuất nông nghiệp ở nông thôn. Vấn đề đặt ra khi đó là phải tìm ra một thể chế mới để hỗ trợ, làm “bà đỡ” cho kinh tế hộ cá thể đang dần trở thành chủ thể chính của sản xuất nông nghiệp.
Trong bối cảnh đó, nhiều chương trình, dự án quốc tế quy mô lớn đã được triển khai nhằm thử nghiệm các mô hình HTX kiểu mới ở Việt Nam. Đặc biệt, Chương trình Đồng bằng sông Hồng (còn gọi là Program du Fleur Rouge) với sự tham gia của các tổ chức phát triển từ Pháp và Bỉ, đã thực hiện hàng loạt nghiên cứu và mô hình thí điểm tại các tỉnh như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn. Tiếp nối là các dự án Dialogue, AiCoop và nhiều hợp tác kỹ thuật giữa Việt Nam - châu Âu, với giả thiết nền tảng là: mô hình HTX kiểu mới, hoạt động trên nguyên tắc ICA (Liên minh HTX Quốc tế) như tự nguyện, dân chủ, cùng sở hữu và cùng hưởng lợi, sẽ là hình thức tổ chức phù hợp để hỗ trợ nông dân nhỏ lẻ tiếp cận dịch vụ, công nghệ, thị trường, từ đó vượt thoát khỏi sản xuất manh mún, tự phát.
Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh rằng, dù lý thuyết có đúng đến đâu, thì mô hình HTX kiểu mới thời kỳ đầu vẫn mang nhiều tính “nhập khẩu”, chưa kịp thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội và năng lực quản trị ở địa phương. Bên cạnh đó, thể chế hỗ trợ, thị trường hàng hóa, và sự vào cuộc của các cấp ngành, địa phương chưa đầy đủ đã hạn chế các kết quả. Chính vì vậy, dù đã được thử nghiệm khá rộng, các HTX kiểu mới vẫn chưa thể khẳng định vai trò trong tổ chức lại sản xuất nông nghiệp trong suốt hai thập kỷ, 1990 - 2010.
Phải đến sau khi Luật HTX năm 2012 ra đời, thực sự đi vào cuộc sống và các chính sách phát triển kinh tế tập thể được hoàn thiện đồng bộ hơn, khu vực HTX nông nghiệp mới thực sự bước vào giai đoạn khởi sắc và có bước phát triển vững chắc. Sự chuyển mình đó không đến từ một chính sách riêng lẻ, mà là kết quả của một chuỗi các can thiệp chiến lược, bài bản và thích ứng, đặc biệt là vai trò tham mưu xuyên suốt của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn trong suốt hàng thập kỷ qua. Đây cũng là bước khởi đầu cho việc tái định vị HTX không chỉ là một mô hình kinh tế mà còn là một thể chế nền tảng của phát triển nông thôn mới, nông nghiệp sinh thái, và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bài viết này tập trung phân tích các nguyên nhân chủ yếu khiến các mô hình hợp tác xã kiểu mới không thể phát triển thành công trong giai đoạn khởi đầu, từ đó đối chiếu với những chuyển biến tích cực trong giai đoạn gần đây để rút ra những bài học chính sách có giá trị thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ vai trò tham mưu chiến lược của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn trong việc kiến tạo khuôn khổ thể chế phù hợp, xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ và từng bước nâng cao vai trò, vị thế của khu vực hợp tác xã trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện đại.
- GIAI ĐOẠN 1990–2010: MÔ HÌNH ĐÚNG NHƯNG CHƯA GẶP THỜI
Ngay từ đầu thập niên 1990, sau khi các hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất theo Nghị quyết 10 (Khoán 10) và Luật Đất đai 1993, nhiều dự án quốc tế đã tài trợ và hỗ trợ xây dựng mô hình HTX kiểu mới, nổi bật như Chương trình Đồng bằng sông Hồng, các dự án AiCoop và Dialogue giữa Việt Nam - Pháp - Bỉ. Các mô hình HTX này hoàn toàn tuân thủ các nguyên tắc ICA: tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, mở và cùng chia sẻ lợi ích. Theo lý luận quốc tế, HTX sẽ là tổ chức “bà đỡ” cho hộ nông dân, cung cấp các dịch vụ cần thiết mà cá nhân hộ không thể tự tổ chức hiệu quả như giống, vật tư, tín dụng và tiêu thụ sản phẩm.
Tuy nhiên, trong thực tiễn Việt Nam, sự du nhập bước đầu mô hình HTX này lại không thành công như kỳ vọng. Trước hết, nền sản xuất nông nghiệp khi đó chủ yếu là tự cung tự cấp. Các hộ nông dân chưa có nhu cầu rõ ràng về dịch vụ tập thể, cũng không cảm nhận được vai trò thiết yếu của HTX trong việc nâng cao giá trị sản phẩm. Hơn nữa, các HTX thử nghiệm thường được thiết kế với quy mô thành viên lớn theo mô hình châu Âu, trong khi năng lực quản trị của người quản lý địa phương và cán bộ HTX còn rất hạn chế. Chi phí vận hành, chi phí tổ chức và chi phí giao dịch trở nên quá cao so với lợi ích mang lại. Nhiều HTX nhanh chóng trở nên hình thức và không có hoạt động thực chất.
Một hạn chế khác là việc các HTX chưa được gắn kết với chuỗi giá trị nông sản. HTX lúc này chỉ được coi là nơi cung cấp giống hoặc cho vay tín dụng nhỏ, chứ chưa tổ chức được sản xuất theo tiêu chuẩn, chưa thực hiện truy xuất nguồn gốc, chưa kiểm soát được chất lượng hay tham gia ký kết hợp đồng bao tiêu với doanh nghiệp. Trong khi đó, người dân vẫn mang nặng tâm lý e ngại HTX vì liên tưởng đến mô hình HTX kiểu cũ, cưỡng ép, bắt buộc tập thể hóa nông nghiệp thời kỳ trước.
Ở một số địa phương, tư duy về HTX còn bị hiểu sai, dẫn đến các chính sách khuyến khích “HTX cổ phần” như ở tỉnh Hải Dương, đồng nhất mô hình HTX với doanh nghiệp cổ phần. Luật HTX năm 2003 đưa ra khái niệm “Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp…” đã gây tranh cãi trong nhiều năm với câu hỏi nếu hoat động như doanh nghiệp thì HTX thuộc loại doanh nghiệp gì? Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, đối vốn hay đối nhân? Tại sao hoat động như doanh nghiệp lại không gọi là doanh nghiệp mà lại gọi là HTX? Việc phát triển HTX trở thành nhiệm vụ của các dự án mà chưa nhận được sự vào cuộc thực sự của hệ thống chính trị. Luật HTX 1996 và 2003 dù đã có nhưng còn khái quát, thiếu công cụ chính sách đi kèm, không cắt nghĩa một cách rõ ràng bản chất của HTX. Hậu quả là đến năm 2010, cả nước chỉ có khoảng 1.200 trong tổng số gần 10.000 HTX nông nghiệp được đánh giá là hoạt động hiệu quả, chiếm chưa đến 13% tổng số HTX nông nghiệp.
III. GIAI ĐOẠN 2012–2024: NHỮNG BƯỚC ĐI THỰC CHẤT VÀ BỀN VỮNG CỦA KHU VỰC KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ
Chuyển biến quan trọng chỉ thật sự diễn ra sau năm 2012 khi Luật HTX năm 2012 đi vào cuộc sống và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đặc biệt là Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, đóng vai trò tham mưu toàn diện cho nhiều chương trình, đề án và chính sách phát triển khu vực HTX.
Chiến lược phát triển HTX trong giai đoạn này nhấn mạnh vai trò trung tâm của HTX trong tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Khác với giai đoạn trước chỉ dừng ở việc cung cấp dịch vụ đầu vào, HTX kiểu mới được định vị là tác nhân điều phối sản xuất theo tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng, quản lý vùng nguyên liệu, hỗ trợ kỹ thuật, đồng thời ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp. Nhiều HTX điển hình đã hình thành như HTX na Lạng Sơn liên kết sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; HTX cà phê hữu cơ Ea Tu ở Đắk Lắk hợp tác với doanh nghiệp xuất khẩu châu Âu; HTX Lúa - Tôm Thới Bình (Cà Mau) đảm nhiệm giám sát toàn bộ vùng nguyên liệu 600 ha theo mô hình tuần hoàn.
Đặc biệt, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT đã tham mưu Chính phủ phê duyệt và triển khai Chương trình phát triển 15.000 HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả đến năm 2025. Đây là chương trình có quy mô quốc gia, lần đầu tiên xác lập hệ thống tiêu chí HTX hiệu quả một cách cụ thể, trên cơ sở đó hỗ trợ chọn lọc, xây dựng mô hình, nhân rộng và giám sát kết quả định lượng. Đồng thời, Cục đã tích cực lồng ghép phát triển HTX vào các đề án lớn của ngành như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, sản đạt chuẩn theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ và Quyst định số 1088/QĐ-BNN-KTHT của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT; chương trình khuyến nông, xây dựng nông thôn mới.
Một trong những giải pháp quan trọng được đẩy mạnh trong giai đoạn này là đào tạo nhân lực HTX, đặc biệt là Chủ tịch HĐQT và giám đốc HTX. Nhận thấy khoảng trống lớn về năng lực quản trị trong khu vực này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Chương trình đào tạo nghề giám đốc HTX với khung chương trình chuẩn gồm 12 modul, từ quản trị sản xuất, tài chính, xây dựng phương án kinh doanh đến kỹ năng đàm phán và phát triển thị trường. Chỉ trong giai đoạn 2017–2022, đã có trên 5.000 lượt học viên là cán bộ quản lý HTX được đào tạo hoặc bồi dưỡng theo chương trình này. Song song với đó là các khóa huấn luyện thành viên HTX tại cơ sở để nâng cao hiểu biết về quyền lợi, nghĩa vụ và cơ chế hoạt động của HTX kiểu mới.
Một giải pháp khác mang tính thực tiễn sâu sắc là hỗ trợ HTX tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Trong các chương trình như Khuyến nông trọng điểm, OCOP, tái cơ cấu ngành hàng chủ lực, HTX được xác định là đối tác trung gian giữa nông dân và doanh nghiệp. Nhiều mô hình HTX đã được lựa chọn làm đầu mối liên kết sản xuất theo hợp đồng, giúp tập hợp thành viên, cung ứng vật tư đầu vào, tổ chức áp dụng quy trình GAP, đồng thời ký kết hợp đồng bán hàng với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Vai trò này không chỉ giúp HTX phát triển dịch vụ cho thành viên mà còn giúp cán bộ HTX học hỏi trực tiếp phương pháp quản trị hiện đại từ doanh nghiệp, hình thành năng lực điều hành phù hợp với thị trường.
Không dừng ở khâu tổ chức sản xuất, Cục còn chủ trì tham mưu và triển khai hàng loạt chính sách hỗ trợ đầu tư thiết bị, công nghệ cao cho HTX. Từ năm 2018 đến nay, các HTX được hỗ trợ hàng nghìn máy sấy, hệ thống tưới tự động, thiết bị chế biến nhỏ, nhà sơ chế, kho lạnh, đặc biệt trong các chương trình như hỗ trợ phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Năm 2023, riêng trong khuôn khổ Đề án vùng nguyên liệu nông sản, hơn 120 HTX tại các vùng nguyên liệu cây ăn quả, lúa, cà phê,
hồ tiêu đã được hỗ trợ đồng bộ từ thiết bị chế biến, kho bảo quản đến hệ thống cấp nước tưới.
Một xu hướng mới rất đáng chú ý trong các chính sách gần đây là thúc đẩy xây dựng mô hình HTX đa dịch vụ. Thay vì chỉ tập trung vào một khâu (ví dụ: vật tư, tiêu thụ), HTX được khuyến khích phát triển đồng thời nhiều loại dịch vụ như tín dụng nội bộ, bảo hiểm mùa vụ, tư vấn kỹ thuật, sơ chế, đóng gói, logistics, du lịch. Nhiều địa phương như Bắc Giang, Đồng Tháp, Sơn La đã triển khai mô hình cụm HTX liên kết theo chuỗi, trong đó các HTX chuyên môn hoá dịch vụ phối hợp với nhau thông qua Liên hiệp HTX. Đặc biệt, từ năm 2021 trở lại đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã lần đầu tiên hỗ trợ hạ tầng logistics phục vụ cụm HTX vùng nguyên liệu, một bước đi thể chế hóa vai trò tổ chức sản xuất tập thể theo hướng tích hợp và hiện đại.
Tổng hợp lại, các giải pháp này không chỉ mang tính hỗ trợ trực tiếp mà còn đóng vai trò dẫn dắt thay đổi tư duy và nâng cao năng lực nội tại của HTX. Đó là điểm khác biệt lớn nhất so với giai đoạn trước đây khi chính sách chỉ dừng ở hỗ trợ đầu vào hoặc hành chính hóa mô hình. Nhờ triển khai đồng bộ và có hệ thống, từ năm 2015 đến 2023, số lượng HTX nông nghiệp tăng từ 10.200 lên 22.456 HTX; tỷ lệ HTX hoạt động hiệu quả tăng từ 32,4% trên 65%, một bước tiến mang tính nền tảng cho giai đoạn phát triển mới của khu vực kinh tế tập thể.
- BÀI HỌC CHÍNH SÁCH TỪ THỰC TIỄN 30 NĂM QUA
Từ tiến trình ba mươi (30) năm phát triển, có thể đúc kết một số bài học chính sách sâu sắc giúp định hình chiến lược phát triển hợp tác xã bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.
Bài học đầu tiên là không nên áp đặt quy mô thành viên ngay từ khi thành lập HTX, quá nhỏ hoặc quá lớn đều không thuận lợi cho giai đoạn hình thành HTX
[1]. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nhiều HTX nhỏ ban đầu, nếu có mô hình hoạt động tốt, bộ máy gọn nhẹ, người điều hành tâm huyết, hoàn toàn có thể phát triển thành HTX quy mô lớn sau một thời gian tích luỹ và mở rộng thành viên. Đối với các HTX trong giai đoạn thành lập và phát triển, cần quan tâm đến chỉ số tăng trưởng về quy mô thành viên và doanh thu, thay vì áp đặt một quy mô lớn, quá sức đối với người quản lý gây hiệu ứng ngược đối với kinh tế quy mô. Chính sách khuyến khích cần hướng đến việc hỗ trợ HTX theo chuỗi phát triển quy mô, trong đó có cả quy mô doanh thu, quy mô thành viên và quy mô vùng nguyên liệu. Tuy nhiên, đi kèm với đó phải là đào tạo bài bản cho đội ngũ giám đốc và cán bộ HTX. Nếu không, quy mô tăng nhanh sẽ dẫn đến khủng hoảng quản trị, tạo ra rủi ro tài chính và đổ vỡ niềm tin.
Bài học thứ hai không kém phần quan trọng là phải xây dựng được lòng tin của người dân vào HTX. Trên thực tế, hậu quả của mô hình HTX thời bao cấp đã để lại trong tâm thức nhiều người dân những định kiến sâu sắc. Nếu không truyền thông rõ ràng, minh bạch, HTX kiểu mới sẽ khó được tiếp nhận. Do đó, các chính sách hỗ trợ HTX cần đi kèm với các chiến dịch truyền thông bài bản, có chiều sâu, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, hình ảnh trực quan, và kết hợp với các mô hình thực tế. Khi người dân hiểu rõ HTX là của mình, vì mình và do mình làm chủ, họ sẽ sẵn sàng tham gia và gắn bó lâu dài.
Một bài học khác là vai trò then chốt của thể chế và hệ thống chính trị. Những HTX phát triển thành công thường xuất phát từ những địa phương có sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền, có cán bộ chuyên trách, có cơ chế khuyến khích cụ thể. Mặt khác, hệ thống chính sách, pháp luật phải đồng bộ và linh hoạt, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và liên tục cập nhật. Luật HTX năm 2023 là một bước tiến về thể chế, nhưng cần đi kèm với các nghị định, thông tư hướng dẫn kịp thời và các chính sách tài chính, đào tạo, đất đai tương thích.
Cuối cùng, HTX không chỉ là công cụ tổ chức sản xuất mà còn là công cụ triển khai hiệu quả các chính sách phát triển nông nghiệp - nông thôn trong bối cảnh mới. Các chính sách như an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, chuyển đổi xanh, xây dựng nông thôn mới, phát triển sản phẩm OCOP đều cần một thể chế trung gian có năng lực tổ chức và bảo vệ lợi ích người sản xuất nhỏ - đó chính là HTX. Khi được trao quyền, hỗ trợ đúng mức và quản trị minh bạch, HTX có thể trở thành hạt nhân của mô hình phát triển bền vững, bao trùm và tự chủ.
- ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH GIAI ĐOẠN TỚI
Phát triển HTX là yêu cầu khách quan để tạo dựng thể chế bền vững ở nông thôn, là đối trọng thể chế cần thiết bên cạnh kinh tế tư nhân, góp phần bảo vệ lợi ích người sản xuất nhỏ trong nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đòi hỏi mô hình tăng trưởng xanh, phát thải thấp, ứng dụng công nghệ cao và số hóa sâu rộng, HTX nông nghiệp cần được định vị là một chủ thể trung tâm trong tổ chức lại sản xuất và tái cấu trúc nền nông nghiệp.
Một định hướng trọng tâm là phát triển hệ sinh thái chuyển đổi số dành riêng cho HTX. Cần xây dựng nền tảng số dùng chung cho khu vực kinh tế tập thể, tích hợp dữ liệu về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và thông tin thị trường. Bên cạnh đó, cần phát triển bản đồ số nông nghiệp gắn với cơ sở dữ liệu địa chí làng nghề, vùng nguyên liệu và các ngành hàng chủ lực.
Một trọng tâm nữa là thiết kế các cơ chế tài chính đặc thù cho HTX. Chính phủ và các địa phương sớm cải tiến hoạt động của quỹ hỗ trợ HTX theo hướng bảo lãnh tín dụng HTX, hỗ trợ cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi, miễn giảm thuế thu nhập trong thời gian đầu hoạt động. Bài toán vốn là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay, khi chỉ khoảng 5% HTX tiếp cận được tín dụng ngân hàng. Cần xây dựng hệ sinh thái tài chính riêng cho HTX, gồm các nguồn vốn ưu đãi, quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đổi mới sáng tạo trong khu vực kinh tế tập thể.
Cần tiếp tục nghiên cứu "Đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế vận hành HTX". HTX bên cạnh là một pháp nhân cần có cơ chế quản trị minh bạch, tài chính độc lập và nhân sự chuyên nghiệp. Đồng thời, phải đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa giám đốc HTX thông qua đào tạo chính quy, cấp chứng chỉ, chuẩn hóa khung năng lực quản lý HTX như một nghề nghiệp thực sự.
Về nguồn nhân lực, cần xây dựng chương trình đào tạo bài bản cho cán bộ HTX theo chuẩn quốc gia, cấp chứng chỉ chính quy. Việc học tập từ mô hình “Young Smart Farmers” ở Thái Lan là kinh nghiệm quý báu: Huy động sinh viên nông nghiệp, thanh niên khởi nghiệp về đồng hành cùng HTX và nông dân trong chuyển giao công nghệ.
Cuối cùng, cần đưa chỉ tiêu phát triển HTX trở thành tiêu chí bắt buộc trong xây dựng nông thôn mới và kế hoạch kinh tế - xã hội các cấp. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của lãnh đạo chính quyền cấp xã, huyện trong việc chỉ đạo, theo dõi và hỗ trợ HTX.
Ba mươi năm phát triển hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam là hành trình chuyển hóa từ mô hình du nhập sang mô hình nội sinh – từ lý thuyết phù hợp sang thực tiễn hiệu quả. Sự thất bại ban đầu không phải là thất bại của lý tưởng mà là sự thiếu đồng bộ về thể chế, thị trường, nhân lực và chính trị. Chính sự thay đổi phương thức tiếp cận, từ dự án sang thể chế, từ mô hình sang hệ sinh thái, từ phong trào sang chính sách quốc gia - đã làm nên những kết quả bước đầu khả thi hiện nay. Những gì đạt được là nền tảng nhưng không phải là điểm kết thúc. Cần tiếp tục đầu tư, đổi mới tư duy và tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng để khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã thực sự trở thành nền tảng vững chắc cho một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái và có khả năng thích ứng cao trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Tương lai của HTX không chỉ là phục vụ kinh tế hộ, mà còn là giải pháp căn bản để tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, và phát triển nông thôn hiện đại. Với sự quyết tâm từ trung ương đến địa phương, sự đồng hành của người dân và doanh nghiệp, HTX sẽ là lực lượng nòng cốt trong tiến trình xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, hiện đại và có năng lực cạnh tranh quốc tế trong giai đoạn mới của đất nước.
PHỤ LỤC:
Bảng 1. So sánh mô hình HTX trước và sau 2015
|
Tiêu chí
|
1990–2010
|
Sau 2015 đến nay
|
|
Quy mô ban đầu
|
Lớn, từ 100–500 thành viên
(HTX toàn xã)
|
Nhỏ, từ 30–150 thành viên (T`heo nhu cầu hợp tác)
|
|
Cách mở rộng
|
Không rõ chiến lược
|
Mở rộng theo chuỗi giá trị và liên kết
|
|
Quản trị nội bộ
|
Yếu, cán bộ không chuyên
|
Giám đốc có đào tạo, cơ chế minh bạch
|
|
Liên kết thị trường
|
Giao dịch lẻ, thiếu hợp đồng
|
Có hợp đồng tiêu thụ, vùng nguyên liệu
|
|
Vai trò hệ thống chính trị
|
Rời rạc, thiếu sự vào cuộc
|
Có chỉ đạo, chính sách, giám sát rõ ràng
|
|
Quản trị số
|
Rất hạn chế, chỉ ở một số HTX
|
Só động các HTX đã ứng dụng các phần mềm quản trị (Kế toán, truy suất nguồn gốc; lập kế hoạch kinh doanh và bán hàng)
|
Bảng 2. Số lượng và tỷ lệ HTX NN hoạt động hiệu quả (xếp loại khá, giỏi)
|
Năm
|
Tổng số HTX nông nghiệp
|
Số HTX hoạt động hiệu quả
|
Tỷ lệ (%)
|
|
2010
|
9.500
|
1.200
|
12,6
|
|
2015
|
10.200
|
3.600
|
34.5
|
|
2020
|
16.500
|
8.500
|
53.4
|
|
2024
|
22.456
|
14.550
|
64,7
|